• Dao Phuong Anh
    Dao Phuong Anh
  • Những cống hiến của Nguyễn Trãi đối với đất nước ta?

    nhung cong hien cua Nguyen Trai doi voi dat nuoc ta

  • avatar
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
Ngày đăng: 14-04-2013 18:45 889
Bình Luận
Trả lời (4)
  • Ông xứng đáng được tôn vinh là người đặt nền cho văn học thời đại khai sáng, mở đầu cho nền thơ cổ điển Việt Nam. Ông là sự kết tinh những tinh hoa văn hóa tư tưởng của thời đại Lý – Trần rồi vận động nâng cao lên rực rỡ hồi đầu thế kỷ XV, trong thực tiễn chiến đấu vệ quốc của dân tộc.

    Với lịch sử dân tộc, Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng vĩ đại, là danh nhân văn hoá, nhà quân sự lỗi lạc, nhà chính trị và ngoại giao tài ba mà trải qua nhiều biến động của lịch sử, bao thế hệ vẫn tôn vinh và thừa nhận.

    Với lịch sử văn học, Nguyễn Trãi là nhà khai sáng, tấm lòng và văn chương của ông rực sáng như Lê Thánh Tông ngợi ca “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” (bài Minh lương, tập Quỳnh uyển cửu ca), là “núi Thái Sơn”, là “sao Bắc đẩu”, là người có tài “Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền” (18), là “sông Giang sông Hán trong các sông, sao Ngưu sao Đẩu trong các sao” (19), là nhà thơ đặt nền móng cho giai đoạn khai sáng của nền văn học cổ điển Việt Nam.

    Vị trí của Ức Trai tiên sinh có một không hai trong lịch sử dân tộc và trong văn học sử của mười thế kỷ thời trung đại. Ông rất xứng đáng là danh nhân văn hóa của dân tộc Việt Nam như thế giới đã tôn vinh.

    15/04/2013 Viết bình luận
  • Nguyễn Trãi đã có những công lao vĩ đại trên nhiều phương diện đối với đất nước. Sự nghiệp trước tác của Nguyễn Trãi - chắc hẳn không còn nguyên vẹn do thời gian và nhiều nguyên cớ khác - rất đồ sộ, tương xứng với những cống hiến to lớn của Người ở các lĩnh vực khác, giúp chúng ta hiểu rõ thêm các cống hiến ấy. Cuộc đời và sự nghiệp của Ức Trai thực sự bộc lộ những minh triết.
    Trong Thư gửi Stackenbua, Ăngghen đề xuất một tư tưởng có ý nghĩa phương pháp luận, rằng con người sáng tạo ra lịch sử của mình, nhưng là sáng tạo trong những điều kiện thực tế đương tồn tại và những quan hệ mà người ta phải thích ứng.
    Nghiên cứu Nguyễn Trãi với nhãn quan lịch sử cụ thể, với tinh thần thực sự cầu thị, người ta sẽ nhận thức được nhiều minh triết.
    Bình sinh, Nguyễn Trãi nhiều lần phải đứng trước những sự lựa chọn có ý nghĩa trọng đại đối với bản thân và cộng đồng. Đây thực sự là lựa chọn, vì rằng ít nhất có hai khả năng và chủ thể có thế năng để tham gia vào các khả năng ấy. Có thể đơn cử một số lựa chọn đó.
    Nguyễn Trãi là cháu ngoại Tư đồ (tương đương Tể tướng) Trần Nguyên Đán, đã có những năm tháng của thuở ấu thơ sống với vị quan tâm huyết với dân, với nước và có tâm hồn thi sĩ này. Ông có hai mươi năm là thần dân của nhà Trần. Tóm lại, đối với nhà Trần, Nguyễn Trãi bị câu thúc cả tình và lý. Khi Hồ Quý Ly đoạt ngôi nhà Trần (năm 1400), đại bộ phận quan lại và thân thích của hoàng tộc này chống lại (Riêng sự kiện ở núi Ngưỡng Sơn, nhà Hồ đã ra tay triệt hạ mấy trăm người trong số họ). Vậy mà Nguyễn Trãi đi thi ngay khoa đầu tiên của nhà Hồ, đỗ Thái học sinh rồi nhận chức Ngự sử đài chánh chưởng(2). Thơ ông không mảy may bộc lộ sự băn khoăn vì vi phạm đạo lý “trung thần bất sự nhị quân” này. Về sau, khi sự nghiệp của nhà Hồ không thành, Nguyễn Trãi đã làm quan với nhà Lê, nhà thơ vẫn tôn xưng Hồ Quý Ly là anh hùng (Anh hùng di hận kỷ thiên niên - Quan hải).
    Nguyễn Trãi gọi thời gian trước khi đến với khởi nghĩa Lam Sơn của mình là mười năm trôi dạt (thập niên phiêu chuyển). Đương thời có hơn 60 cuộc khởi nghĩa, trong đó có những cuộc nhân danh khôi phục nhà Trần. Nguyễn Trãi đến với Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những ngày đầu(3), dù Trần Nguyên Hãn - một người dòng dõi hoàng tộc nhà Trần, là anh em con cô con cậu với ông - can ngăn. Với Nguyễn Trãi, đây là sự lựa chọn có ý nghĩa lớn nhất.
    Trước khi tìm được minh chủ, Nguyễn Trãi luôn nung nấu tâm can vì mục đích cứu nước, chứng cớ là khi ra mắt Lê Lợi, ông có Bình Ngô sách (Kế dẹp giặc Ngô) dâng lên. Văn bản này không còn đến ngày nay, nhưng theo Ngô Thế Vinh (thế kỷ XIX), một người sưu tập trước tác Nguyễn Trãi, nói “bất ngôn công thành nhi thiện ngôn công tâm” (không nói đến việc đánh thành, chỉ nói đến việc đánh vào lòng người). Chiến lược này có hiệu quả nên được tái khẳng định trong Bình Ngô đại cáo - văn bản được đánh giá là một bản tuyên ngôn độc lập. Giặc Minh là lũ xâm lược cực kỳ tàn bạo và thâm độc. Chiến thắng chúng bằng chiến lược như trên chẳng phải “tự nhiên nhi nhiên” mà xuất phát từ minh triết để có thể phát huy sở trường của quân dân ta và hạn chế sức mạnh của kẻ thù.
    Với rất nhiều nhân vật của Trung Hoa hay Việt Nam xưa kia, xuất hay xử(4)được lựa chọn nhẹ nhàng, chóng vánh. Đào Tiềm đời Tấn làm quan tám mươi ngày. Ở Việt Nam, trước Nguyễn Trãi có Chu An, sau đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ… sử sách còn ghi. Cớ sao ở Nguyễn Trãi, những điều này lại tạo nên cuộc đấu tranh nội tâm dai dẳng và xúc động?
    Sau khi đánh tan xâm lược Minh, nước nhà bước vào thời kỳ độc lập vinh quang, Nguyễn Trãi được nhà vua ghi nhận công lao (được ban tước Quan phục hầu và quốc tính(5)). Nếu Nguyễn Trãi cứ theo lẽ phải thông thường, bằng lòng với huân công lập được, mặc cho nước chảy bèo trôi, hẳn không có thảm án Lệ chi viên.
    Nho giáo dành sự quan tâm lớn nhất cho cuộc sống hiện tại của con người ở phạm vi cộng đồng. Nguyễn Trãi là một nho sĩ gương mẫu, hiển nhiên là sự quan tâm lớn nhất của nhà chí sĩ cũng hướng đến đó, một phần những minh triết của ông cũng được thể hiện ở đây. Có ba thực thể cơ bản tạo nên đời sống xã hội xưa, đó là đế vương, quốc và dân. Lý tưởng của Nguyễn Trãi cũng giống như lý tưởng của những chân nho khác, là “trí quân trạch dân”(6). Trong thơ Ức Trai, nỗi niềm ưu ái(7) đêm ngày cuồn cuộn nước chầu đông (Thuật hứng, bài số 5), tức là cảm hứng về cuộc sống xã hội là một trong những cảm hứng chủ đạo. Những thành tựu tư tưởng của Nguyễn Trãi chủ yếu là ở phạm trù nước và dân. Đương nhiên thực tế cho thấy, những điều này cũng ảnh hưởng đến tư tưởng về đế vương.
    Như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ rõ, trong học thuyết Khổng Mạnh, “quân tử” và “tiểu nhân” không phải là các trình độ đạo đức, mà là các thang bậc xã hội. Sự bất bình đẳng là nền tảng của học thuyết này (Chẳng nói đâu xa, ngay ở nước ta đời Trần, một vị tướng khẳng định: Tướng là chim ưng, quân dân là vịt. Lấy vịt để nuôi chim ưng, có gì là lạ). Nhìn nhận Nguyễn Trãi trong môi trường tư tưởng ấy càng thấy tư tưởng về dân của ông là những thành tựu đột xuất.
    Trong Bình Ngô đại cáo, văn bản quan phương trang trọng bậc nhất đương thời, Nguyễn Trãi nhiều lần minh định về đại chúng. Đó là manh, lệ, quan, quả… những người thuộc tầng lớp dưới của xã hội. Bình Ngô đại cáo tố cáo tội ác của quân xâm lược không phải đối với vương triều hoặc cá nhân nào, mà là tội ác đối với tầng lớp này. Hình tượng văn chương của bản đại cáo biểu thị dân là một lực lượng quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đương thời. Những tư tưởng đáng được coi là đột xuất đó không chỉ thể hiện trong những văn bản chính luận, mà còn biểu hiện nhất quán trong thơ - nơi trước hết ưu tiên cho những tư tưởng và xúc cảm riêng tư. Một lần đóng quân ở cửa biển, nhà thơ nhớ lại năm xưa nhà Hồ bố trí trận địa nơi đây chống quân Minh, rồi nhanh chóng thất bại. Tình, cảnh, sự đó khiến nhà thơ liên tưởng đến lời vua Đường Lý Thế Dân dặn con: Lật thuyền mới biết sức dân mạnh như nước. Chân lý lịch sử này được vị đế vương Trung Hoa xưa đúc kết không phải xuất phát từ tư tưởng thân dân, mà từ những thay đổi sơn hà thời Tùy. Sự giác ngộ của vị hoàng đế Trung Hoa chỉ dừng ở đó, do xuất phát từ mục đích bảo vệ ngai vàng. Ở Nguyễn Trãi, dân không chỉ là một yếu tố của tư duy chính trị, mà đã trở thành một giá trị của tình cảm đạo đức nên ngay cả khi một mình đối diện với mình, giá trị đó cũng tự nhiên bộc lộ:
    Ở yên thì nhớ lòng xung đột,
    Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày.
    (Bảo kính cảnh giới, bài số 19)
    Được sống trong thái bình phồn thịnh phải nhớ thuở gian lao nguy hiểm! Sợ rằng lòng người ngọt bùi quên lúc đắng cay, nhiều tác giả văn chương có tư tưởng thân dân đương thời cũng cảnh báo như vậy (ví dụ Nguyễn Mộng Tuân trong Chí Linh sơn phú). Còn quan niệm được ăn lộc nước phải trả ơn kẻ cấy cày, đương thời là độc hữu Nguyễn Trãi. Tư tưởng xã hội đậm đà chất nhân văn này cuối thế kỷ XIX mới được tái xác nhận trong văn chương một số sĩ phu yêu nước, nhưng ngay cả khi đó cũng không ai giống Nguyễn Trãi, đúc kết như một minh triết.
    Thời trung đại ở nước ta có nhiều nhà chính trị kiệt xuất, tuy nhiên tư tưởng chính trị và tư tưởng nhân đạo nhất quán có hệ thống thì không nhân vật nào sánh được với Nguyễn Trãi. Điều này thấy ngay cả trong Quân trung từ mệnh tập, khi Nguyễn Trãi phải đối diện với ngoại xâm, với bạo lực và trí trá. Là nhà chính trị, nhà quản lý, Nguyễn Trãi hẳn biết đến quyền mưu. Những bài thơ Ức Trai dâng Lê Thái Tổ nhân dịp nhà vua về thăm Lam Sơn không chỉ có sự xưng tụng theo lẽ phải thông thường của bề tôi mà còn có cả nội dung của thỉnh nguyện thư của một nhà chính trị lớn mẫn cảm. Nhà thơ viết:
    Quyền mưu bản thị dụng trừ gian,
    Nhân nghĩa duy trì quốc thế an.
    (Hạ quy Lam Sơn)
    (Quyền mưu vốn để trừ gian ác,
    Nhân nghĩa giữ cho thế nước yên ổn).
    Minh triết ở đây là bất cứ ai, dù ở đỉnh cao quyền lực, cũng không được lẫn lộn đối tượng của hành vi, không được lấy mục đích biện hộ cho phương tiện. Đương thời, người người ta nghĩ khác. Chẳng hạn, Makiavêli (1469 - 1527) nhà nhân văn chủ nghĩa người Ý, người được coi là cha đẻ của môn chính trị học, cho rằng nhà vua có thể vừa là chồn cáo vừa là sư tử. Mục đích sẽ biện hộ cho phương tiện.
    Lênin từng căn dặn rằng không được dừng lại ở cắt nghĩa tư tưởng bằng bản thân tư tưởng mà phải tìm đến căn nguyên thực tiễn. Cơ cơ sở để khẳng định nền giáo dục Nho giáo không thể dẫn đến các giá trị trên ở Nguyễn Trãi. Đây thực sự là sản phẩm của thời đại phục hưng của dân tộc, trong đó các tầng lớp bình dân có vai trò lớn, một cuộc “xông lên trời” theo cách nói của Mác.
    Quan niệm về quốc gia - dân tộc mà Nguyễn Trãi trình bày trong Bình Ngô đại cáo được nhiều nhà nghiên cứu trong ngoài nước đánh giá là cống hiến ở tầm thế giới. Điều tưởng như là thành tựu đột xuất này, nếu ai đã đọc Quân trung từ mệnh tập sẽ thấy là sự tiệm tiến, là tập đại thành tất yếu. Làm nên thành quả lớn đến độ bất ngờ đó có vai trò của tư duy phản biện. Giặc Minh có đủ võ và văn, có thừa tàn bạo, thâm độc và trí trá để thôn tính và đồng hóa các lân bang. Chúng lấy cả lời của thánh hiền để làm chiêu bài. Chẳng hạn chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” là cụ thể hóa lời của Khổng Tử về sứ mệnh “hưng diệt quốc, kế tuyệt thế” của thiên tử(8). Các giá trị minh triết Nguyễn Trãi không phải chủ yếu được được hình thành từ tư duy hàn lâm, mà cơ bản là sự khái quát anh minh và nhanh nhạy từ thực tiễn sinh động của một người trong cuộc.
    Từ xa xưa dân tộc Trung Hoa đã cống hiến cho nhân loại nhiều trí tuệ siêu việt. Một trong số đó là Lão Tử (đồng thời với Khổng Tử). Di sản Lão Tử lớn đến mức theo đồng bào của ông thì một đời người với những giới hạn hữu hình và vô hình về vật chất và tinh thần, không thể sáng tạo nên được. Vậy là ở Trung Hoa lưu truyền một huyền thoại kỳ thú: Lão Tử có mấy mươi năm ở trong bụng thân mẫu để nghiền ngẫm mọi sự nên sinh ra điều gì cũng biết!
    Một trong những cống hiến của Lão Tử là minh triết bảo thân. Ông cho rằng “tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi” (biết danh phận mình đã đầy đủ rồi thì không bị nhục, biết thời cơ nên thôi thì không bị nguy hiểm). Đã có vô vàn gương tày liếp để chúng sinh ngộ ra chân lý: Khi hết chim thì người ta bẻ cung tên đi, khi hết muông thú thì người ta giết chó săn đi. Bởi thế, “công thành thân thoái, thiên chi đạo”. Lập xong công lao thì phải lui về ở ẩn, đạo người đó được đôn lên là đạo trời, nghĩa là tuyệt đối đúng. Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) và vua Tự Đức (1829-1883) là hai trong số những trí tuệ thông thái nhất ở Việt Nam thời trung đại, đã cắt nghĩa bi kịch Nguyễn Trãi là do không nhận thức được lẽ “chỉ” “túc”. Chỉ cần đọc trước tác Nguyễn Trãi, người ta cũng có thể thấy các ý kiến đó xa sự thật.
    Chỉ riêng trong thơ Nguyễn Trãi - nơi nhà thơ có thể bộc lộ trực tiếp nhất tư tưởng cảm xúc riêng của mình - đã thấy tác giả suy ngẫm về cuộc đời và sự nghiệp của hàng trăm nhân vật Trung Hoa từ viễn cổ đến đương thời. Phạm Lãi thời Xuân Thu được người Trung Hoa xưa xem là điển hình của thức nhận minh triết bảo thân: Sau khi giúp Việt Vương Câu Tiễn lấy được nước, ông ta không hề chờ đợi huân thưởng mà bỏ lại tất cả để đi ngao du Ngũ hồ. Thực ra Phạm không phải là kẻ hư vô, vì còn nhớ mang theo Tây Thi - người đàn bà được coi là vưu vật quốc gia. Nguyễn Trãi cũng ngẫm nghĩ về nhân vật này:
    Thế sự bất tri hà nhật liễu,
    Thiên chu qui điếu
    Ngũ hồ xuân.
    (Mạn thành, kỳ nhị)
    (Việc đời chẳng biết ngày nào mới xong,
    Chiếc thuyền nhỏ về câu xuân ở Ngũ hồ).
    Nguyễn Trãi còn nhắc đến khăn Đỗ Phủ và cúc Uyên Minh (Mạn thuật, bài số 9). Thơ chữ Hán và thơ quốc âm của Nguyễn Trãi đều cho thấy công danh hay sự sống chết của bản thân đều không phải là sự quan tâm lớn nhất của tác giả. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt mấy trăm bài thơ là đạo quân thân (trách nhiệm đối với vua và với cha). Ngôn từ cũ kỹ và không mang bản sắc nhưng bộc lộ khát vọng giản dị lão thực là được làm người có ích. Dùng các khuôn thước thông thường thì không thể tiếp cận được các giá trị đích thực Nguyễn Trãi.
    Quan niệm của Nho giáo về quan hệ của cá thể với xã hội được thể hiện tập trung trong định đề xuất xử. Các nhà tập thuyết của Nho giáo có vô vàn tấm gương sinh động trong lịch sử Trung Hoa hàng mấy chục thế kỷ để hình thành ở các đệ tử sẵn cả hai tâm thế: “Đạt, tắc kiêm tế thiên hạ; cùng, tắc độc thiện kỳ thân”. Gặp thời thì giúp đời, nếu không, chỉ cần giữ cho riêng mình trong sạch. Đó không phải thượng sách và hạ sách mà đều là hai lối sống lý tưởng. Nguyễn Trãi là người tinh thông sử sách, thấu hiểu lẽ đời, cớ sao cứ phải dùng dằng về lẽ xuất xử? Hậu thế không phải suy luận nhiều, chính Nguyễn Trãi đã viết rõ:
    Vua Nghiêu, Thuấn,
    dân Nghiêu, Thuấn,
    Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền.
    (Tự thán, bài số 4)
    Lời của thánh nhân lấy bản thân đương sự làm hệ quy chiếu, còn Nguyễn Trãi sống theo minh triết khác. Đó chính là căn nguyên của mọi sự.
    Quan niệm văn hóa của Nguyễn Trãi có một số nội dung không hoàn toàn nằm trong quỹ đạo Nho giáo và cũng không theo lẽ phải thông thường. Nguyễn Trãi sống trong những thập kỷ văn hóa Việt Nam có những biến động lớn. Dưới thời Minh thuộc một bộ phận văn hóa Việt Nam bị quân xâm lược hủy hoại với mưu đồ thay bằng văn hóa Hán. Sau khi ngoại xâm bị đánh đuổi và nhà Hậu Lê được lập nên, Nho giáo trở thành ý thức hệ độc tôn. Đương thời sử dụng kinh điển do các học giả đời Tống chú giải.
    Nhà nho nói chung đề cao văn hiến, nhưng đề cao đến độ xem là giá trị được khẳng định đầu tiên trong một văn bản trọng đại bậc nhất, như Nguyễn Trãi làm trong Bình Ngô đại cáo, chủ yếu là do nguyên cớ khác. Suốt trong quá trình xâm lược, nhà Minh luôn trịch thượng coi dân ta là “di” (mọi rợ), coi nước ta là “phiên bang” (nước làm phên dậu cho Trung Hoa), “thuộc quốc” (nước phụ thuộc). Nếu quân dân ta không đủ ý chí để vượt qua thành kiến đó thì không thể đánh đuổi được ngoại xâm. Bởi vậy, khi sự nghiệp giải phóng dân tộc hoàn thành, chân lý ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang (nước Đại Việt ta thực là nước văn hiến) là điều đầu tiên cần được long trọng khẳng định.
    Quan niệm văn hóa của Nguyễn Trãi có tinh thần dân tộc và dân chủ. Cũng như nhiều Nho sĩ khác, Nguyễn Trãi sớm được đào luyện trong nền văn hóa hàn lâm và sở hữu một vốn tri thức bác học có hệ thống. Tuy nhiên, không vì thế mà Nguyễn Trãi xa lạ với nguồn văn hóa của đại chúng, hơn nữa người trí thức này còn dùng sở học của mình để làm hay làm đẹp cho các giá trị văn hóa dân gian. Đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa thơ quốc âm của Nguyễn Trãi với văn vần dân gian Việt Nam. Cần nói thêm rằng, với văn hóa dân gian, Nguyễn Trãi vừa đồng tình vừa đối thoại. Chẳng hạn văn vần dân gian Việt Nam có câu:
    Anh em như thể chân tay,
    Vợ chồng áo mặc đổi thay tức thì(10).  
    Nguyễn Trãi có quan niệm nhân văn hơn:
    Chân tay dầu đứt khôn bề nối,
    Xống áo chăng còn mô dễ xin(11).
    (Bảo kính cảnh giới, bài số 15)
    Chúng tôi cho rằng nhất định có những câu thơ quốc âm của Nguyễn Trãi được dân gian hóa, gia nhập vào văn vần dân gian Việt Nam, vì rằng đó đều là những câu hàm súc, giàu nhạc điệu, đúc kết những kinh nghiệm nhân sinh với tinh thần nhân bản.
    Ở nước ta suốt thời trung đại thành kiến “nôm na mách qué” không chỉ có ở tầng lớp trên. Tuy nhiên điều này không mảy may có ở vị đại quan, đại trí thức Nguyễn Trãi. Trong di sản thơ Nguyễn Trãi hiện còn, số bài thơ quốc âm nhiều gấp hai lần rưỡi thơ chữ Hán. Thơ Nôm của thi hào vẫn được dùng để biểu hiện những điều tâm huyết. Hơn nữa Nguyễn Trãi đã thấy ở thơ quốc âm những điều tâm đắc. Trong 254 bài thơ Nôm chỉ có 71 bài theo thể Đường luật, số bài còn lại chủ yếu xen câu lục ngôn với vị trí không cố định. Thơ đi giữa nhạc và ý. Việc giản lược ngôn từ này sẽ thay đổi cảm thức thi ca quen thuộc.
    Với việc sáng tạo bằng nhiều quốc âm, Nguyễn Trãi đã dân chủ hóa thể loại, đề tài và làm giàu cảm hứng nghệ thuật. Hiển nhiên là có nhiều loài cỏ cây nhờ Nguyễn Trãi mà lần đầu tiên được đi vào thơ ca, góp phần làm cho hình tượng thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi phong phú bậc nhất trong văn học Việt Nam trung đại. Minh triết này ảnh hưởng từ nhãn quan Phật giáo cho rằng mọi loài đều có Phật tính.
    Ở tư cách là tác giả văn chương, minh triết đã khiến Nguyễn Trãi làm nên hiện tượng duy nhất trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại. Ông đã để lại sự nghiệp văn chương có sự tương xứng kép, ở bậc cao: Tương xứng giữa văn học chức năng và văn chương thẩm mỹ, tương xứng giữa trước tác chữ Hán và trước tác quốc âm.  
    Nguyễn Trãi có nhiều hoạt động xã hội cơ bản, tức là còn có nhiều tư cách khác nữa. Ở tư cách nào, chủ thể cũng có những khái quát thể hiện sự đúc kết minh triết. Chẳng hạn, Nguyễn Trãi nhiều lần triết luận về người tri thức:
    Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn,
    Pha lão tằng vân ngã diệc vân.
    (Mạn hứng, bài số 1)
    (Người đời biết chữ thì nhiều lo nghĩ, Ông Tô Đông Pha từng nói như vậy, ta cũng nói như vậy).
    Ở đây tư thế của người trí thức Nguyễn Trãi không phải thể hiện ở phát hiện chân lý, mà ở việc tái xác nhận. Cách khẳng định này rất ít gặp ở thời trung đại.
    Lần khác, nhà thơ viết:
    Tu kỷ đãn tri vi thiện lạc,
    Trí thân vị tất độc thư đa.
    (Ngẫu thành)
    (Sửa mình chỉ biết làm điều lành là vui,
     Lập thân chưa hẳn cần đọc nhiều sách).
    Nguyễn Trãi không xem thuộc tính của trí thức là sống với sách vở. Ông ý thức rõ đâu là phương tiện, đâu là những mục đích cơ bản và cao quý. Những điều này đến tận hôm nay vẫn cần được coi là minh triết.

    15/04/2013 Viết bình luận
  • Bạn tham khảo những phương diện làm nên tên tuổi ông nè:

    NGUYỄN TRÃI – NHÀ ÁI QUỐC VĨ ĐẠI, ANH HÙNG DÂN TỘC

    Sử sách còn ghi chuyện chàng thanh niên Nguyễn Trãi khóc theo cha đến tận ải Nam Quan khi cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt giải về Kim Lăng. Cuộc đời Nguyễn Trãi bắt đầu bằng thảm kịch “nước mất nhà tan”. Chính “mối hận Nam Quan” đã nhen nhóm ngọn lửa của lòng yêu nước thương nòi trong tâm khảm Nguyễn Trãi để một ngày kia nó bùng cháy thành hoả diệm sơn của một sự nghiệp anh hùng.

    Trong những năm bị giặc Minh giam lỏng ở Đông Quan, Nguyễn Trãi đã kí thác niềm u uất và chí vọng của mình trong những bài thơ nôm:

    Góc thành nam lều một gian
    No nước uống, thiếu cơm ăn…
    Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải,
    Góc thành nam lều một gian.


    (Thủ vĩ ngâm)

    … Một thân lẩn quất đường khoa mục,
    Hai chữ mơ màng việc quốc gia.
    Quân thân chưa báo, lòng canh cánh
    Tình phụ cơm trời, áo cha.


    (Vô đề)

    Nung nấu chí vọng “đền nợ nước, báo thù nhà”, khi nghe tin Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi bèn trốn khỏi Đông Quan tìm vào Thanh Hoá gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách, được Lê Lợi trọng dụng. Ông đã đồng cam cộng khổ với nghĩa quân Lam Sơn suốt mười năm kháng chiến. Một mình ông đảm trách cả một mặt trận quan trọng: mặt trận chính trị ngoại giao. Với sở học uyên bác, trí tuệ sắc bén, ông đã liên tiếp gửi thư cho bọn tướng giặc, đánh những đòn cân não làm tan rã tinh thần của chúng.

    Cuối cùng Nguyễn Trãi đã thực hiện được ước mơ cháy bỏng của ông: đánh đuổi được giặc Minh, mang lại độc lập cho đất nước. Chính ông đã thay mặt Lê Lợi viết bản Bình Ngô đại cáo tổng kết chiến thắng oanh liệt của dân tộc:

    Chẳng những mưu kế cực kì sâu xa
    Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy.
    Xã tắc do đó vững bền,
    Non sông từ đây đổi mới.
    Trời đất bĩ rồi lại thái,
    Nhật nguyệt mờ rồi lại trong.
    Để mở nền thái bình muôn thuở,
    Để rửa mối sỉ nhục ngàn thu!


    (Bản dịch trong Đại Việt sử kí toán thư)

    Ngay cả khi bị bọn lộng thần đố kị, vu cáo, thậm chí bị hạ ngục, khiến ông buộc lòng phải hai lần xin về trí sĩ tại Côn Sơn, tấm lòng ưu quốc ái dân của ông vẫn không lúc nào nguôi:

    Bui một tấc lòng ưu ái cũ
    Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông.


    (Thuật hứng)

    Làm quan dưới hai triều Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông, ông đã ra sức chèo lái con thuyền của triều đình nhà Lê đi đúng con đường chính đạo mà tinh thần căn bản là thực hành nhân nghĩa để yên dân. Điều đặc sắc ở vị đại quan Nguyễn Trãi là khái niệm ái quốc luôn được cụ thể hoá bằng khái niệm ái dân, cận dân. Nói cách khác, với ông, chính lòng ái dân là thước đo tuyệt đối của lòng ái quốc! Có lẽ chỉ trừ một người thứ hai là vua Lê Thánh Tông, không một vị vua quan nào của triều Lê đạt tới ý niệm tuyệt vời đó. Và cũng chính vì tư tưởng khuynh dân đó mà Nguyễn Trãi trở thành thù địch của bọn quan lại triều Lê – những kẻ ít nhiều đều mắc căn bệnh vị kỉ viễn dân. Có thể nói Nguyễn Trãi đã tử vì… tinh thần khuynh dân đó!

    Trọn cả cuộc đời cống hiến cho nước, cho dân, lập được những kì tích sáng chói, Nguyễn Trãi trở thành một anh hùng dân tộc vĩ đại, kế tục truyền thống của Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo… đời trước, sát cánh với người anh hùng cứu nước Lê Lợi đương thời.

    Chủ nghĩa anh hùng yêu nước của ông thể hiện rất rõ nét trong nhiều trước tác văn chương của ông như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, thơ nôm và thơ chữ Hán mà sau đây là một bài tiêu biểu:

    ĐỀ GƯƠM

    Rồng ẩn Lam Sơn lúc đợi thời,
    Trong tay thế sự rõ mười mươi.
    Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi,
    Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài.
    Hận nước nghìn năm vừa rửa sạch,
    Hòm vàng muôn thuở chắc không phai.
    Giang sơn đổi mới từ đây nhỉ,
    Thử đếm anh hùng được mấy ai?


    Xuân Thủy dịch

    NGUYỄN TRÃI – NHÀ CHÍNH TRỊ KIỆT XUẤT, BẬC HIỀN TÀI QUỐC GIA.

    Nguyễn Trãi tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và cộng sự với triều đình nhà Lê với tư cách một nhà chính trị, một nhà mưu lược. Ông đã thi thố tài kinh bang tế thế trên các mục tiêu chiến lược: đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước, xây dựng triều đại Hậu Lê thành một triều đại hưng thịnh. Bên cạnh đó ông xây dựng một sự nghiệp văn chương kì vĩ.

    Suốt cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi đã tỏ rõ ông là một nhà chính trị kiệt xuất có tầm tư tuởng cao nhất của thời đại bấy giờ. Đánh giặc đương nhiên phải dùng tới vũ dũng. Nhưng đối lập với những kẻ hữu dũng nhưng vô mưu, vô trí, vô nhân, Nguyễn Trãi, với tầm vóc của một nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, vị quân sư của Lê Lợi, đã cống hiến và đặt nền móng tinh thần, tư tưởng cho cuộc kháng chiến. Đó là tư tưởng nhân nghĩa mà ông rút từ học thuyết Nho Giáo của Khổng Tử nhưng được áp dụng một cách đầy sinh động và sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta lúc đó. Cao kiến ấy của Nguyễn Trãi, nhà Hồ cũng như nhà Hậu Trần trước đó đều không có được. Nó đáp ứng khát vọng cháy bỏng của nhân dân ta đương thời, khiến cho tất cả mọi người Việt Nam từ bậc hào kiệt, giới sĩ phu, dân cày cuốc đến kẻ cùng đinh đều hướng về và quây quanh vị chủ tướng Lê Lợi. Muôn người cùng có chung một suy nghĩ lớn: NGHĨA, và một tình cảm lớn: NHÂN. Chính sự thống nhất cao độ về lí trí và tình cảm ấy đã tạo nên sức mạnh “chở thuyền lật thuyền”, khiến giặc Minh không thể nào chống lại nổi!

    Tư tưởng nhân nghĩa trác việt ấy luôn luôn được Nguyễn Trãi triệt để cổ súy, nhấn mạnh ở mọi nơi, mọi lúc, trên chính trường, trên nghị luận và trong văn chương. Mở đầu Bình Ngô đại cáo – bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam thế kỉ XV – ông viết:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

    Chỉ với hai câu văn, Nguyễn Trãi đã xác định rõ ràng mục tiêu quang minh chính đại của cuộc kháng chiến chống Minh: đó chính là việc thực thi tư tưởng nhân nghĩa trong hoàn cảnh chống ngoại xâm. “Cẩm nang” nhân nghĩa là vũ khí tinh thần tối quan trọng cho nghĩa quân và nhân dân Đại Việt, đồng thời là độc tố làm rệu rã tinh thần của bọn giặc Minh xâm lược. Có thể nói Nguyễn Trãi đã sử dụng tài tình nghịch lí “gậy ông đập lưng ông”: ông dùng chính những luận điểm kinh điển của tư tưởng Trung Hoa từng được các bậc thánh hiền như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Mặc Tử… đúc kết mà bọn tướng Minh đều đã học thuộc nằm lòng, để quật lại chúng. Giặc Minh kéo sang An Nam với chiêu bài “chính nghĩa” là diệt nhà Hồ để khôi phục ngôi nhà Trần đã bị nhà Hồ thoán đoạt. Nhưng Nguyễn Trãi đã vạch rõ bộ mặt xâm lược phi nghĩa của chúng chỉ bằng một từ duy nhất: “bạo”! Chiêu bài “chính nghĩa” bị xé toạc, bộ mặt bạo ngược, bất nhân phi nghĩa của giặc bị phơi bày trước trời đất, trước toàn thể sĩ phu và nhân dân ta: chỉ riêng điều đó cũng đã đủ khiến chúng vô cùng hoảng sợ. Đòn cân não ấy xuất phát từ một khối óc thiên tài: Nguyễn Trãi.

    Khác với rất nhiều vị vua và các tướng lĩnh giỏi của các thời đại, trong nước và trên thế giới, Nguyễn Trãi – xuất phát từ tư tưởng nhân nghĩa – hiểu thấu hơn ai hết cái chân lí lớn máu người không phải nước lã. Chính vì vậy, ông ra sức dùng đòn bút, đòn cân não để đánh giặc, nhằm làm giảm bớt tối đa xương máu của nghĩa quân Lam Sơn. Việc quân ta chủ trương trường kì vây hãm Đông Quan mà không ồ ạt tiến công hạ thành cũng chính nhằm bảo toàn lực lượng của ta, và kết quả thật kì diệu: giặc Minh rốt cuộc phải đầu hàng, còn nghĩa quân Lam Sơn hầu như không mất một mũi tên, một mạng người!

    Ở phần cuối Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức”. Tinh thần nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đối với quân và dân ta nồng đượm biết chừng nào!

    Là nhà tư tuởng tầm vóc nhân loại, Nguyễn Trãi chủ trương áp dụng nhân nghĩa cho tất cả những ai là con người chứ không riêng gì người An Nam. Một sáng kiến vĩ đại của ông là mang nhân nghĩa áp dụng ngay cả với kẻ thù! Ông chủ trương “mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng”. Ông chỉ muốn đánh vào tâm vào trí giặc khiến chúng bại vong rút về nước chứ không thích giết nhiều người. Ngay cả khi tính mạng giặc hoàn toàn nằm trong tay nghĩa quân, các lãnh tụ Lam Sơn đã hành động theo tinh thần “oai thần không giết, ta cũng thể lòng trời mở đức hiếu sinh”.

    Khởi đầu bằng một cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng nhờ có tư tưởng nhân nghĩa làm kim chỉ nam, phần cuối của cuộc kháng chiến chống Minh đã diễn ra bằng hình thức “đàm phán hoà bình”. Giặc Minh ở các lộ được tự do đến các chợ mua “đồ lưu niệm”, rồi tất cả lục tục kéo về Đông Quan để rút hết về nước. Không ai khác, chính Nguyễn Trãi là tác giả của hình thức kết thúc chiến tranh hiếm thấy đó trong lịch sử chiến tranh phương Đông.

    Hiệu quả của hành động kết thúc chiến tranh bằng tư tưởng nhân nghĩa ấy thật vô cùng to lớn: một trang sử mới hoà hiếu đã mở ra giữa hai nước An Nam – Trung Hoa và duy trì suốt hơn bốn trăm năm cho đến khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta vào nửa cuối thế kỉ XIX (trừ một giai đoạn rất ngắn quân Thanh kéo sang nước ta theo lời kêu gọi của Lê Chiêu Thống nhưng lập tức bị vua Quang Trung tiêu diệt).

    Từ xưa đến nay, chỉ những bậc đại nhân đại trí như Nguyễn Trãi mới chọn nhân nghĩa (hay chủ nghĩa nhân đạo) làm nền tảng cho sự nghiệp của mình. Họ chủ trương giải quyết những vấn nạn của nhân loại trên cơ sở lương tri cao cả của con người. Đối lập với họ là bọn bạo chúa của các thời đại (như phái pháp gia đời Tần hoặc Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt thời Nguyên Mông…) – những kẻ chủ trương xây dựng sự nghiệp trên xương máu và thảm hoạ của muôn dân mà thi hào Nguyễn Du đã mô tả bằng một câu “Dãi thây trăm họ làm công một người”. Con đường nào đúng? Đó là một câu hỏi hóc búa đòi hỏi phải có những kiến giải tối ưu đặt ra cho những người muốn đi tìm chân lí của môn lịch sử.

    Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy tư tưởng nhân nghĩa trong thời bình, khi ông phụng sự dưới hai triều Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông thông qua việc tổ chức triều chính, ban hành các chính sách kinh tế xã hội... Đằng sau các lệnh chỉ của vua, của triều đình, người đọc sử có thể thấy rõ mồn một cái hạt nhân trí tuệ và tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Ví dụ các lệnh chỉ sau đây: tiến cử và tự tiến cử hiền tài; sát hạch trình độ của các quan văn võ trong toàn quốc; cấm rượu chè cờ bạc; đào tạo các con quan văn võ tại Trường quốc học; phân chia ruộng đất cho tất cả mọi người, từ quan đại thần đến người cùng đinh, đàn bà goá, trẻ mồ côi; cho phép các ngôn quan được dâng sớ vạch rõ những sai lầm khiếm khuyết của vua, đàn hặc những sai trái của các quan; cấm quan lại không được mở rộng đất đai ngoài mức triều đình qui định v.v…

    Trong sớ tâu với vua Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi đã viết một câu bất hủ: “Xin bệ hạ yêu muôn dân để cho tận chốn thôn cùng xóm vắng không còn nghe thấy tiếng ta thán, thế mới là không mất cái gốc của nhạc”.

    Những đóng góp của Nguyễn Trãi – nhà tư tưởng, nhà chính trị kiệt xuất, bậc hiền tài quốc gia – đã giúp cho triều đại Hậu Lê tiến bộ vượt bậc và đạt tới cực thịnh vào đời Lê Thánh Tông. Nguyễn Trãi xứng đáng sánh ngang với các nhà chính trị lỗi lạc của mọi thời đại.

    NGUYỄN TRÃI – MỘT NHÂN CÁCH VĨ ĐẠI

    Ngoài những cống hiến vô cùng lớn lao cho đất nước, Nguyễn Trãi được toàn thể dân tộc tôn vinh còn vì nhân cách cao cả của ông.

    Con người có nhân cách là người biết tự trọng, quyết chí tu thân, có lí tưởng sống cao đẹp và suốt đời hành động theo lí tưởng đó.

    Ngay từ khi còn rất trẻ, Nguyễn Trãi đã mang nặng hoài bão nhập thế giúp đời. Thiên tài của ông đã may mắn gặp được bậc minh quân, được trọng dụng trong công cuộc vĩ đại: đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại nền thái bình thịnh trị cho đất nước. Ông đã hào hứng viết:

    Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi,
    Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài.


    (Đề gươm)

    Tài năng và nhân cách của ông đã làm nên hình tượng người anh hùng của thời đại chống ngoại xâm.

    Nhưng nhân cách ông càng thực sự sáng ngời trong những nghịch cảnh của đời ông diễn ra giữa thời bình nhưng đầy dẫy phiền lụy của một triều đại phong kiến. Ngay dưới triều Lê Thái Tổ, do những lời sàm tấu của lũ quan lại trong triều (vu cho ông tội âm mưu nổi loạn, cướp ngôi!), ông đã bị nhà vua hạ ngục. Trong nghịch cảnh ấy, ông đã nén lòng uất hận, đã đặt bi kịch cá nhân mình xuống dưới sự nghiệp lớn lao của nhà Hậu Lê, dưới nền thái bình của xã tắc:

    Trung côi, ghét lắm, bao đau xót,
    Hoạ thực danh hư khéo nực cười.
    … Trong lao “độc bối” cam mang nhục,
    Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?


    (Than nỗi oan) – Thạch Can dịch

    Mang cốt cách đại trượng phu, Nguyễn Trãi không bao giờ thoả hiệp, về hùa với những tà kiến của một số triều thần. Vì vậy, ông trở thành cái gai trước mắt họ. Bị họ bài xích, cuối cùng ông đành phải xin vua Lê Thái Tông cho về trí sĩ ở Côn Sơn (những năm 1437 – 1438). Lâm vào một nghịch cảnh mới, ông đã xử sự như thế nào?

    Trước hết, ông nhận thức được “trong cái rủi có cái may”! Vì bị xua đuổi mà ông có được một dịp tốt nhất để chính mình chiêm nghiệm cuộc sống ẩn cư, từng được coi là điều tuyệt thú của bao hiền sĩ đời xưa, trong đó có ông ngoại của ông là Trần Nguyên Đán. Không chịu để cho bi kịch của cuộc sống thế tục đè bẹp, ông vươn lên tầm cao, hoà nhập vào đại tự nhiên cực kì diễm lệ. Hình ảnh của ông khác nào một tiên ông, một thánh nhân giữa núi non, mây nước, cây cỏ, chim muông:

    Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay,
    Trông thế giới phút chim bay.
    Non cao non thấp mây thuộc,
    Cây cứng cây mềm gió hay…

    hoặc:

    Thiêu hương đọc sách quét con am
    Chẳng bụt chẳng tiên ắt chẳng phàm.
    Ánh cửa trăng mai lớp lớp,
    Kề song gió trúc nồm nồm…

    Trong những hoàn cảnh đặc biệt, người ẩn sĩ quay lưng lại với cuộc đời, khẳng định bản lĩnh và phẩm chất cá nhân của mình. Xét theo tinh thần của chủ nghĩa nhân bản, đó là một biểu hiện không những hợp lí mà còn tuyệt đẹp nữa. Vì vậy mà những ẩn sĩ như Bá Di, Thúc Tề, Sào Phủ, Hứa Do, Lã Vọng, Khổng Minh, Nghiêm Quang hay bọn “bát tiên”, “lục dật” ở Trung Hoa, hoặc Trần Nguyên Đán, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến ở Việt Nam… đã đi vào huyền thoại và trở thành điển cố.

    Nguyễn Trãi đã nhiều lần khẳng định mình sau khi ông đã giải quyết xong bài toán hành – tàng, xuất – xử:

    Ngán vòng thế tục thân danh hão,
    Quẳng cái phù sinh giấc mộng hờ.
    Tính khí một đời nguyên nếp cũ,
    Lênh đênh há giảm chí hào xưa!


    (Đêm đậu thuyền ở cửa Lâm)

    – Ngô Linh Ngọc dịch

    Ngoài năm mươi tuổi, ngoài chưng thế,
    Ắt đã tròn bằng nước ở bầu.

    hoặc:

    Non lạ nước thanh làm náu,
    Đất phàm cõi tục cách xa.
    Cốt lạnh hồn thanh chăng khứng hoá
    (không chịu đổi).

    Vận dụng triết lí Lão – Trang, sống thoát tục, Nguyễn Trãi càng nhận thức sâu sắc một chân lí của muôn đời:

    Dưới công danh đeo khổ nhục,
    Trong dầu dãi có phong lưu.

    Và ông hướng tới một lí tưởng mới: nếu không còn điều kiện để làm một quốc sĩ thì hãy làm một con người thật sự trong sạch và thánh thiện. Đó không phải là điều đáng mơ ước cho chúng sinh trong vòng ô trọc sao:

    Phú quí chẳng tham, thanh tựa nước.

    Tuy nhiên, đặc tính của một nhân cách lớn là tối kị lối sống “hư sinh” (sống thừa). nguyễn Trãi chính là biểu hiện rực rỡ của cái chân lí về người quân tử mà Kinh Dịch đã nói: “Trời chuyển vần mãnh liệt, quân tử cũng tự tạo sức mạnh mà không ngừng nghỉ.” (Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức). Trong thời gian ở ẩn tại Côn Sơn, ông đã làm bao nhiêu việc lớn lao vĩ đại, không hề thua kém việc ông tham gia kháng chiến chống Minh trước đó: tu thân, tìm ra triết lí sống mới, tổng kết những bài học về thế sự và nhân sinh, viết sách giáo khoa luân lí đạo đức, và sáng tạo cả một công trình vĩ đại về thi ca Hán – Nôm.

    Ông hiểu thấu rằng luân lí, đạo đức, thuần phong mĩ tục… là nền tảng cho đời sống hạnh phúc lâu dài của con người. Vì vậy, ông đã trước tác một tác phẩm chuyên về luân lí đạo đức mang tên Bảo kính cảnh giới (Gương quí răn mình) trong đó ông đúc kết nên những khuôn vàng thước ngọc của nền đạo đức dân tộc. Những bài “đức dục” ấy của ông, trải qua năm sáu trăm năm, đến nay dường như vẫn còn nóng hổi và sát thực với chúng ta:

    - Kết bạn, mạ (chớ) quên người cố cựu,
    Yên nhà nỡ phụ vợ tao khang?
    - Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược,
    Có nhân có trí có anh hùng.
    - Cơm ăn miễn có, dầu thô bạc,
    Áo mặc âu chi quản cũ đen.
    - Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền,
    Cành bắc cành nam một cỗi nên.
    Ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp…
    - Của thết người là của còn,
    Khó khăn, phải đạo cháo càng ngon.
    - Bất nhân vô số nhà hào phú,
    Của ấy nào ai từng được chầy (lâu)?
    - Sắc là giặc, đam làm chi?
    Trụ mất quốc gia vì Đát Kỉ
    Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi…

    Không hề giáo điều với chủ nghĩa ẩn cư, khi được ông vua trẻ Lê Thái Tông mới lên ngôi mời ra giúp việc triều đình, Nguyễn Trãi lại vui vẻ “nhập thế”. Ông lại lao vào một cuộc chiến đấu mới hết sức gay go. Khi ấy nhà vua còn trẻ, lười học hành, ham chơi bời, sớm vướng víu chuyện thê nhi… Triều chính lục đục, nhất là chuyện phế lập thái tử, chuyện rắc rối giữa các bà phi… Với trách nhiệm của một bậc lương thần, ông ra sức chèo chống để hạn chế những hành động sai quấy của cả vua lẫn bọn quan lại trong triều. Chính vì vậy, ông trở thành tảng đá cản dòng đối với bọn gian thần. Cuối cùng, chúng lợi dụng cái chết đột ngột của Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên, vu cáo ông âm mưu giết vua và khép ông vào cái án tru di tam tộc!

    Thảm hoạ và cái chết của Nguyễn Trãi phải được nhìn nhận như một hành vi tuẫn đạo của một bậc đại hùng đại đức, của một nhân cách vĩ đại. Nhân cách ấy vượt lên trên tầm của thời đại nhiễu nhương bấy giờ và hướng tới sự tất thắng của chân lí, đúng như những câu thơ ông viết:

    Văn như vị táng dã quan thiên.

    (Văn không tàn lụi cũng do trời)

    Là một khai quốc công thần và đại thần của triều Hậu Lê, Nguyễn Trãi có thể dễ dàng đạt được tột đỉnh của vinh hoa phú quí, vậy mà ông đã khước từ tất cả và cuối cùng phải hi sinh đến ba họ chỉ vì chân lí, vì nhân nghĩa, vì nhân dân. Nhân cách cao thượng, trong sáng của ông quả có thể sánh với mặt trăng mặt trời.

    NGUYỄN TRÃI – NHÀ VĂN HÓA VĨ ĐẠI

    Từ xưa, loài người đã từng sản sinh ra một mẫu người vô cùng hiếm hoi: mẫu nhân tài bách khoa như Léonard de Vinci (1452 – 1519). Nguyễn Trãi của Việt Nam thuộc mẫu người đó. Ông đồng thời là nhà chính trị lỗi lạc, nhà bác học và nhà thơ vĩ đại. Ông nghiên cứu và có nhiều trước tác thuộc nhiều lĩnh vực của tự nhiên và xã hội như: quân sự (Quân trung từ mệnh tập), địa lí (Ức Trai dư địa chí), lịch sử (Lam Sơn thực lục), điển phạm của triều đình (Giao từ đại lễ), pháp luật của quốc gia (Luật thư – tác phẩm sau này được Lê Thánh Tông sử dụng làm nội dung căn bản của bộ luật vĩ đại: Bộ luật Hồng Đức), âm nhạc (ông là người tổng kết âm luật nhạc dân tộc để soạn ra quốc nhạc, chế định các nhạc cụ của ban nhạc triều đình, là tác giả chế tạo khánh đá), văn học (gồm cả văn và thơ chữ Hán và chữ Nôm).

    Trong luận văn này, chúng tôi xin đi sâu trình bày về sự nghiệp thơ văn Hán và Nôm kì vĩ của ông.

    Nguyễn Trãi là cây đại thụ toả bóng rợp ngàn năm cho hậu thế. Trước ông, thơ nôm đã xuất hiện và còn để lại chứng tích ở đời Trần với Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Trần Quí Khoáng, Nguyễn Biểu… (hầu hết tác phẩm của họ đã thất truyền). Những tác phẩm còn sót lại được viết khá bóng bẩy nhưng vẫn còn mang nặng khuôn sáo thơ cổ điển Trung Hoa.

    Thơ quốc âm của Nguyễn Trãi là di sản quí báu nhất của thời kì sơ khai nền văn học dân tộc. Ông chính là một trong những “ông tổ thơ nôm” đã đặt nền móng cho nền thơ ca thành văn của dân tộc sẽ phát triển không ngừng ở các thời đại sau.

    Kì tích đầu tiên của Nguyễn Trãi với thơ nôm là việc ông nhận thức được giá trị và chú tâm khai thác vốn từ ngữ của Tiếng Việt, một ngôn ngữ có đặc tính đẹp đẽ, tinh tế, biểu cảm, giàu tính tượng hình và thượng thanh, giàu âm điệu… Ông đã chọn lọc, sáng tạo thêm và sử dụng chúng trong thơ với tư cách là những từ ngữ văn học nôm đích thực như: quẩy trăng, ngại bước, thu lành lạnh, nguyệt chênh chênh, cây rợp, dửng dưng ca, hớp nguyệt, nguyệt hiện, thanh tựa nước, chim kêu cá lội, hoa xảy động, nguyệt đeo về, tổ ong tàng, núi láng giềng, mây khách khứa, say mùi đạo, đầy qua nóc, nặng với then, nắng quáng, cây im thưa thớt, gió khoan khoan đến, tơ vết, mồ hoang cỏ lục, cài lướt then, chân đi đủng đỉnh, vận xênh xang, nước biếc non xanh, đêm chờ hương quế, ngày lệ bóng hoa, nguyệt một vầng, thu vàng, tuyết bạc, ngàn núi xanh, nguyệt ba canh, lao xao chợ cá, dắng dỏi cầm ve, phơ phơ đầu bạc, leo lẻo doành xanh …

    Ông cũng mạnh dạn chuyển ngữ sang tiếng Việt nhiều từ ngữ, thành ngữ gốc tiếng Hán để cho người Việt dễ hiểu như: tường đào ngõ mận, câu quạnh cày nhàn, đạp áng mây, tấc lòng ưu ái, câu mầu, non lạ nước thanh, biển hiểm, ẩn cả, ba thân, hỏi trăng, cả dùng, cởi buồn, dưỡng dỗ, đi nghỉ, lòng thế…

    Một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi là việc thay thế những câu 7 âm tiết trong thơ Đường Trung Hoa thành những câu 6 âm tiết trong thơ nôm:

    Góc thành nam lều một gian,
    No nước uống thiếu cơm ăn.
    Con đòi trốn dường ai quyến,
    Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn…

    Không chỉ là bậc thầy sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ thơ nôm, Nguyễn Trãi còn tỏ rõ ông là nhà thơ nôm thiên tài của dân tộc. Những nhà thơ lớn nhất của các thời đại sau, xét theo quan điểm lịch sử, không ai có thể vượt nổi ông.

    Hầu hết thơ tả cảnh của ông đều là những kiệt tác. Có những câu thơ cực kì tài tình khiến những nhà thơ hiện đại phải kinh ngạc, khâm phục như:

    - Tà dương bóng ngả áp giang lâu,
    Thế giới đông nên ngọc một bầu.
    - Cửa song dãi xâm hơi nắng,
    Tiếng vượn vang kêu cách non.
    Cây rợp tán che am mát,
    Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn.
    Cò nằm hạc lặn nên bầy bạn
    Ủ ấp cùng ta làm cái con.
    - Đủng đỉnh chiều hôm giắt tay
    Trông thế giới phút chim bay.
    Non cao non thấp mây thuộc,
    Cây cứng cây mềm gió hay.
    - Trà tiên nước kín, bầu in nguyệt,
    Mai rụng hoa đeo bóng cách song.
    Gió nhặt đưa qua ổ trúc,
    Mây tuôn phủ rợp thư phòng.
    - Phơ phơ đầu bạc ông câu cá,
    Leo lẻo doành xanh con mắt mèo.
    - Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
    Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
    Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
    Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

    Những câu thơ như vậy đâu có thua kém những câu tuyệt tác nhất của thơ Đường Trung Hoa hay của bất kì một nền thơ ưu tú nào trên thế giới? Phải chăng đây đích thực là thứ thơ mà người đời gọi là thơ tiên?

    Thơ tả tình của Nguyễn Trãi cũng tài hoa không kém: những rung động tinh tế nhất của tâm hồn nhà thơ thời xưa được diễn tả một cách thần tình:

    - Loàn đơn (liều lĩnh) ướm hỏi khách lầu hồng:
    Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng!
    Ngoài ấy dù
    (nếu) còn áo lẻ,
    Cả lòng
    (rộng lòng) mượn đắp lấy hơi cùng!
    - Xuân xanh chưa dễ hai phen lại,
    Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên.
    - Vì ai cho cái đỗ quyên kêu?
    Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu.
    Lại có hoè hoa chen bóng lục,
    Thức xuân một điểm não lòng nhau…

    Bằng thơ nôm, Nguyễn Trãi đã diễn đạt được một cách sắc sảo và đầy rung cảm thế giới tâm tư phong phú, phức tạp, nhiều uẩn khúc của ông: những khát vọng, tâm sự ưu thời mẫn thế, những nỗi đắng cay và cả nỗi buồn được chế ngự bởi cốt cách của một bậc đại trượng phu, một vị đại ẩn sĩ:

    - Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải,
    Góc thành nam lều một gian.
    - Quân thân chưa báo lòng canh cánh,
    Tình phụ cơm trời, áo cha!
    - Bạn cũ thiếu, ham đèn mấy sách,
    Tính quen chăng, kiếm trúc cùng mai?
    - Liệu cửa nhà xem bằng quán khách,
    Đem công danh đổi lấy cần câu.
    - Lòng một tấc son còn nhớ chúa,
    Tóc hai phần bạc bởi thương thu.
    - Cội cây là đá lấy làm nhà,
    Lân các, ai hầu mạc
    (vẽ) đến ta?
    - Say mùi đạo, trà ba chén,
    Tả lòng phiền, thơ bốn câu.
    - Giang sơn cách đường ngàn dặm,
    Sự nghiệp buồn đêm trống ba.
    - Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc,
    Nhà ngặt
    (nghèo) đèn xanh con mắt xanh.
    - Lòng người một sự yêm
    (chán) chưng một,
    Đèn khách mười thu lạnh hết mười!
    - Bui một tấc lòng ưu ái cũ
    Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông...

    Thật diệu kì: những dòng tâm sự hàm chứa những nỗi đau buồn sâu xa ấy, đã sáu trăm năm rồi mà nay đọc lại, những kẻ hậu sinh nặng lòng thương xót vĩ nhân vẫn còn sa lệ!

    Bằng khối óc mẫn tuệ của nhà hiền triết và sự trải đời ít ai sánh được, Nguyễn Trãi đã đúc kết trong thơ nôm rất nhiều triết lí thâm thúy. Một điều đặc sắc là thơ triết lí của ông không khô khan mà giàu cảm xúc nghệ thuật, khi đọc lên nghe tựa như những lời cảm thán với nhân tình thế thái:

    - Dưới công danh đeo khổ nhục,
    Trong dầy dãi có phong lưu.
    - Có thân chớ phải
    (bị) lợi danh vây.
    - Nếu có ăn thì có lo,
    Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho.
    - Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc,
    Cho hay đường lợi cực quanh co!
    - Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn,
    Lòng người quanh nữa nước non quanh.
    - Sang cùng khó bởi chưng giời,
    Lăn lóc làm chi cho nhọc hơi?
    - Con cháu chớ hiềm
    (ngại) song viết (cơ nghiệp) ngặt (nghèo)
    Thi thư thực ấy báu ngàn đời.
    - Chỉn sá (rất nên) lui mà thủ phận.
    - Ngựa ngựa xe xe la ỷ
    (lụa là) tốt,
    Dập dìu là ấy chiêm bao.
    - Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn,
    Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi.
    - Mã
    (chớ) trách thế gian lòng đạm bạc,
    Thế gian đạm bạc, đấy lòng thường!

    Mang tầm vóc của một bậc thánh sư, Nguyễn Trãi đã dùng thơ nôm để truyền đạt đến đồng bào của ông những triết lí sống có giá trị nhất, đã góp phần đắc lực xây dựng nền đạo đức và nếp sống văn hoá của dân tộc ta trong thế kỉ XV mà ý nghĩa của nó sẽ được các thời đại sau kế tục.

    Nguyễn Trãi là một trong những người khai sáng nền thơ nôm thành văn của dân tộc ta. Đồng thời, với thiên tài thi ca, ông trở thành nhà thơ tiếng Việt (thơ nôm) vĩ đại hàng đầu trong làng thơ Việt Nam kim cổ, là bậc thầy thơ nôm của tất cả nhà thơ các thời đại sau.

    Không những là thi hào thơ nôm, Nguyễn Trãi đồng thời là văn thi hào chữ Hán lỗi lạc, để lại uy danh muôn thuở.

    Bình Ngô đại cáo của ông đuợc coi là một áng “thiên cổ hùng văn”, một bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài “Nam quốc sơn hà…” của Lí Thường Kiệt, đã làm phấn chấn tâm hồn người Việt suốt hơn 5 thế kỉ rưỡi qua.

    Bài cáo nêu bật lí tưởng cứu nước cứu dân, tinh thần nhân nghĩa, trí tuệ, khí phách và ý chí dời non lấp biển của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Bằng lối văn biền ngẫu đặc trưng của văn chương cổ điển, bằng giọng văn khi lâm li khi hùng tráng, tác giả đã trình bày cặn kẽ lịch trình của cuộc kháng chiến, ca ngợi chiến thắng vô cùng hiển hách của dân tộc ta:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
    Từ Triệu – Đinh – Lí – Trần nối đời dựng nước,
    Cùng Hán – Đường – Tống – Nguyên hùng cứ một phương.
    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
    Song hào kiệt không bao giờ thiếu.
    … Lấy đại nghĩa thắng hung tàn,
    Lấy chí nhân thay cường bạo.
    Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
    Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay…
    Nó trí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay,
    Ta mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng.
    … Nó đã tham sống sợ chết, thực bụng cầu hoà,
    Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức.
    … Xã tắc do đó vững bền,
    Non sông từ đây đổi mới…


    (Bản dịch trong Đại Việt sử kí toàn thư)

    Quân trung từ mệnh tập gồm những bức thư chữ Hán của Nguyễn Trãi viết thay Lê Lợi gửi cho bọn tướng đầu sỏ của giặc như Phương Chính, Vương Thông, đã thể hiện sinh động chủ trương “mưu phạt tâm công, không chiến cũng thắng” của ông và nghĩa quân Lam Sơn. Tất cả những bức thư ấy đều dùng lối văn nghị luận sắc bén, hào hùng, thể hiện một trí tuệ hơn hẳn và thế thượng phong của quân ta, giáng cho giặc những đòn cân não khiến chúng kinh hãi, rốt cuộc phải tính chước cầu hoà, hạ vũ khí nộp thành và lủi thủi rút về nước! Dưới đây chúng tôi xin trích dẫn một trong những bức thư ấy (đã dịch sang tiếng Việt):

                                         Thư lại dụ hàng Vương Thông

            … Nay các ông kế cùng sức tận, quân sĩ mỏi mệt, trong thiếu lương thực, ngoài thiếu viện binh, bám hờ khu đất nhỏ mọn, nghỉ tạm ở cái thành trơ trọi, chẳng phải như thịt trên thớt, như cá trong nồi đó sao?
            … Nay ta tính hộ các ông có sáu điều phải thua:
            – Nước lụt chảy, tường rào đổ sập, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất.
            – Nay những nơi quan ải hiểm yếu đều có quân và voi ta đồn giữ, nếu viện binh đến, thế tất phải thua, mà viện binh đã thua thì các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai.
            – Nước các ông quân mạnh ngựa tốt đều đóng cả ở đất Bắc phòng bị quân Nguyên, không rỗi ngó đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba.
            – Nước các ông luôn động can qua, liên tiếp gây sự đánh dẹp làm cho người ta sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư.
            – Nước các ông gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, mối hoạ bùng ra từ trong nhà. Đó là điều phải thua thứ năm.
            – Chúng ta dấy nghĩa binh trên dưới cùng lòng, anh hùng dốc sức, quân sĩ ngày càng luyện, khí giới ngày càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc. Đó là điều phải thua thứ sáu.
            Nay các ông giữ một cái thành cỏn con để chờ sáu điều thất bại, tôi lấy làm tiếc cho các ông lắm!…

    Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là thơ ở đỉnh cao, không thua thơ Đường, Tống. Cùng với những cây bút thơ chữ Hán cự phách của Việt nam như Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến…, thơ của ông đã góp phần quan trọng tạo dựng một nền thơ chữ Hán kì vĩ trong quá khứ trên đất nước ta.

    Vì sao tổ tiên ta lại dùng chữ Hán để viết văn, làm thơ về những đề tài hoàn toàn thuộc đất nước và dân tộc ta? Theo thiển ý của chúng tôi, đó không phải một điều đáng mừng, đáng hoan nghênh như quan điểm của những đầu óc thiếu khả năng phán đoán và nắm bắt chân lí. Bởi còn gì tuyệt diệu hơn là dùng chính Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ – để viết tác phẩm cho tất cả người Việt cùng nghe, cùng hiểu, không phải thông dịch? Do đó, việc phải tiếp tục dùng chữ Hán để trước tác văn chương cũng như dùng làm văn tự chính thức trong bộ máy hành chính quốc gia suốt bao nhiêu thế kỉ tự chủ (sau thời Bắc thuộc), chỉ là việc “không thể nào khác được” của dân tộc ta mà thôi. Trong một nghìn năm Bắc thuộc, bọn thống trị phương Bắc muốn biến nước ta thành quận huyện của Trung Hoa. Vì vậy mà chữ Việt cổ bị tiêu diệt, tiếng Việt bị khinh rẻ, bị gạt ra ngoài, Tiếng Hán (dưới dạng âm Hán – Việt) và chữ Hán đương nhiên giữ địa vị độc tôn. Phải mất vài thế kỉ của thời đại tự chủ, người Việt mới chế tác ra chữ Nôm để ghi chép tiếng Việt, bổ khuyết một lỗ hổng lớn của nền văn hóa dân tộc.

    Trong hoàn cảnh “bất khả kháng” đó, Nguyễn Trãi cũng như các trí thức phong kiến khác, đã nhạy bén dùng chính chữ Hán để trước tác nên những tác phẩm thuộc đủ mọi lĩnh vực mang nội dung hoàn toàn Việt Nam. Và điều vô cùng đáng tự hào là những trước tác đó đã đạt tới trình độ tương đương với những trước tác chính cống của Trung Hoa. Chúng tôi xin trích dẫn một kiệt tác thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi:

    Bạch Đằng hải khẩu

    Sóc phong xuy hải khí lăng lăng,
    Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.
    Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,
    Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.
    Quan hà bách nhị do thiên thiết,
    Hào kiệt công danh thử địa tằng.
    Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,
    Lâm lưu phủ ý cánh nan thăng.


    Cửa biển Bạch Đằng

    Biển rung gió bấc thế bừng bừng,
    Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.
    Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,
    Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.
    Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,
    Hào kiệt công danh đất ấy từng.
    Việc trước quay đầu ôi đã vắng,
    Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.]

    Nguyễn Đình Hổ dịch

    Nội dung thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi cũng phong phú như thơ nôm của ông: Có bài hùng hồn giống như Bình Ngô đại cáo (ví dụ bài thơ trên), có bài mô tả thiên nhiên tuyệt mĩ:

    Yên Sơn sơn thượng tối cao phong,
    Tài ngũ canh sơ nguyệt chính hồng.
    Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại,
    Tiếu đàm nhân tại bích vân trung...


    (Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự)

    [Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời,
    Đầu canh năm đã sáng trưng rồi.
    Mắt ngoài biển cả ôm trời đất,
    Người giữa mây xanh vẳng nói cười…]

    Khương Hữu Dụng dịch

    Có nhiều bài hàm chứa những tâm sự thẳm sâu, những nỗi đau đời của một con người vô cùng cao thượng nhưng lại phải trải qua bao cảnh thăng trầm giữa cuộc đời điên đảo:

    Phù trục thăng trầm ngũ thập niên,
    Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
    Hư danh thực hoạ thù kham tiếu,
    Chúng báng cô trung tuyệt khả liên!


    (Oan thán)

    [Biển tục thăng trầm nửa cuộc đời,
    Non xưa suối đá phụ duyên rồi.
    Trung côi, ghét lắm, bao đau xót,
    Hoạ thực danh hư khéo nực cười!]

    Thạch Can dịch

    http://az24.vn/hoidap/nhung-cong-hien-cua-nguyen-trai-doi-voi-dat-nuoc-ta-d2898711.html

    Nguyễn Trãi từng có một nhận định sâu sắc: “Nước ta tuy ở xa ngoài Ngũ lĩnh, nhưng từ xưa đã nổi tiếng là một nước thi thư”. Ở thời đại ông, những tinh hoa của cái thi thư ấy kết tinh nơi ông, và ông có niềm tin sắt đá vào sự bất diệt của nó. Chính vì vậy mà khi lâm nạn, bị Lê Thái Tổ hạ ngục năm 1429, ông viết:

    Số hữu nan đào tri thị mệnh,

    Văn như vị táng dã quan thiên.


    (Số khó lọt vành âu bởi mệnh,
    Văn chưa tàn lụi cũng do trời)

    Nguyễn Trãi đã mang niềm tin ấy để ung dung đi vào cõi vĩnh hằng. Thiên ở đây là gì? Là chân lí vĩnh cửu.

    Lịch sử đã chứng minh hùng hồn chân lí vĩnh cửu mà ông hằng ôm ấp. Sự nghiệp vĩ đại của ông về chính trị, quân sự, văn chương, và phẩm cách cao cả, danh hiệu “anh hùng dân tộc” của ông ngày nay đã được toàn dân tộc ta xác nhận, tôn thờ. Không chỉ thế, vào năm 1980, nhân kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông, ông đã được cả loài người tôn vinh là danh nhân văn hoá thế giới.

    15/04/2013 Viết bình luận