• Một số hãng sản xuât máy tính là của nước nào?

    ai có thể cho mình biết một số hãng sản xuât máy tính là của nước nào? như Acer, dell, sony vario,Asus,toshiba,hp,compaq...cảm ơn mọi người nhiều!chúc mọi người có một ngày vui

  • avatar
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
Ngày đăng: 04-06-2011 20:55 7156
Bình Luận
Trả lời (7)
  • Lịch sử hình thành hãng COMPAQ

    Compaq Computer Corporation là một máy tính cá nhân của công ty được thành lập vào năm 1982 la 1 trong những nhà cung cấp máy tính , hệ thống máy tính lớn nhất thế giới. Năm 2002 Compaq bị Hewlett-Packard  mua lại với 25 tỷ USD.

    Công ty được thành lập bởi Rod Canion , Jim Harris và Bill Murto - cựu quản lý cấp cao của Texas Instruments. Cái tên "COMPAQ" được bắt nguồn từ "Comp atibility và Quality".

    06/06/2011 Viết bình luận
  • Lịch sử hình thành hãng HP

    Hewlett-Packard (viết tắt HP) là tập đoàn công nghệ thông tin lớn nhất thế giới tính theo doanh thu. HP thành lập năm 1939 tại Palo Alto, California, Hoa Kỳ. HP hiện có trụ sở tại Cupertino, California, Hoa Kỳ. Năm 2006, tổng doanh thu của HP đạt 9.4 tỉ đô la, vượt đối thủ IBM với 9.1 tỉ, chính thức vươn lên vị trí số 1 trong các công ty công nghệ thông tin.

    HP được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1939 bởi Bill Hewlett và Dave Packard, với hình thức là nhà sản xuất công cụ đo lường và kiểm định với vốn đầu tư là US$538. Cả hai đã tốt nghiệp Đại học Stanford năm 1934. Công ty khởi đầu trong một ga-ra khi họ còn đang học sau đại học ở Standford. (vì thế câu chuyện của họ là về những trí thức trở nên giàu có chứ không phải là những kẻ nghèo khó trở nên giàu có).

    Sản phẩm đầu tiên là máy tạo dao động âm chính xác, kiểu 200A. Điểm mới của họ là đã dùng bóng đèn nhỏ (loại dùng để chiếu sáng) như là một điện trở nhiệt trong một phần quan trọng của mạch điện. Nhờ vậy họ đã bán kiểu 200A này với giá $54.40 trong khi các đối thủ cạnh tranh bán các máy tạo dao động ít ổn định hơn với giá trên $200. Loạt máy phát kiểu 200 được tiếp tục sản xuất đến năm 1972 với kiểu 200AB, vẫn dựa trên đèn điện tử nhưng có cải tiến về mẫu mã. 33 năm, đó có lẽ là mẫu thiết kế điện tử được bán lâu nhất trong mọi thời đại.

    Tên công ty, Hewlett-Packard, được hình thành từ họ của hai nhà sáng lập. Nếu Bill không thắng trong việc tung đồng xu, thì có thể hiện nay tên công ty được biết sẽ là Packard-Hewlett. Một trong những khách hàng sớn nhất của công ty là Walt Disney Productions, họ đã mua tám máy tạo dao động kiểu 200B (với giá $71.50/cái) để kiểm tra hệ thống Fantasoundstereophonic sound trong những rạp sẽ chiếu phim Fantasia.

    HP bước chân vào lĩnh vực máy tính năm 1966 với sản phẩm đầu tiên mang tên 2116A được thiết kế nhằm thu thập và phân tích các dữ liệu từ các thiết bị kiểm tra và thử nghiệm điện tử của HP. Năm 1984, HP đã cách mạng hóa thị trường máy in với dòng máy LaserJet printer dùng cho máy tính để bàn. HP liên tục dẫn đầu về sản phẩm máy in cho máy tính cá nhân. Năm 2002, HP đã mua lại Compaq Computer và chính thức thâm nhập sâu rộng thị trường máy tính cá nhân.

    Ngày nay, Hewlett-Packard được biết đến như là một nhà phát minh ra các sản phẩm mới. HP đang cung cấp rất nhiều các sản phẩm công nghệ cao cho các khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp. Các sản phẩm chính của HP là máy in, máy tính cá nhân, máy chủ, thiết bị lưu trữ và thiết bị mạng. HP cũng đứng trong hàng ngũ những công ty cung cấp dịch vụ IT lớn nhất thế giới.

    Các số liệu chính tính đến tháng 10/2006:
    Số nhân viên: 150.000
    Tốc độ tăng nhân sự: 0.7%

    Doanh thu: 91,658.0 triệu đô
    Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 5.7%
    Thu nhập sau thuế: 6,198.0 triệu đô
    Tăng trưởng thu nhập bình quân: 158.5%

    06/06/2011 Viết bình luận
  • Lịch sử hình thành phát triển thương hiệu laptop Toshiba

    Được thành lập năm 1875, với gần 135 năm phát triển, cho đến nay tập đoàn Toshiba đã trở thành một trong những tập đoàn công nghệ lớn của Nhật Bản và thế giới với nhiều chi nhánh cũng như đại lý phân phối phủ khắp toàn cầu. Kể từ chiếc notebook PC đầu tiên có tên T1100 ra đời vào năm 1985, đến nay Toshiba đã là một trong 5 nhà sản xuất notebook, laptop lớn nhất thế giới. Số liệu thống kê vào tháng 12 năm 2008, Toshiba đã bán được 60 triệu notebook PC trên toàn cầu. Đi cùng sự phát triển nhanh chóng của thế giới công nghệ, các sản phẩm notebook Toshiba đang ngày càng được cải tiến, với chất lượng đẳng cấp cùng nhiều tính năng đáng mơ ước mà ít sản phẩm laptop nào khác có được.


    Là hãng đứng thứ 3 trong top 20 nhà sản xuất bán dẫn lớn nhất thế giới, Toshiba còn được biết đến nhiều hơn thế. Cũng như nhiều hãng công nghệ Nhật Bản khác, Toshiba tập trung mạnh vào việc nghiên cứu và phát triển các công nghệ mang tính đột phá, vượt trội trong thế giới IT. Các sản phẩm của hãng phần nhiều được sản xuất để nhắm đến việc quảng bá công nghệ hơn là doanh số, do vậy chất lượng các sản phẩm laptop Toshiba luôn chiếm được lòng tin cao từ người tiêu dùng. Nhờ vào uy tín thương hiệu và các sản phẩm với tính năng độc đáo, Toshiba đã chiếm được vị trí thứ 5 trên bảng xếp hạng các nhà sản xuất laptop lớn nhất thế giới, từ nhiều năm qua.

    Các sản phẩm laptop của Toshiba bao gồm 4 dòng laptop phổ thông và hai dòng dành cho doanh nhân. Những thành công trong công nghệ cũng như vị thế dẫn đầu của hãng gắn liền với các mốc “World FIRSTS” sau:

    - Năm 1985, Toshiba sản xuất chiếc laptop đạt chuẩn công nghiệp đầu tiên được bán rộng rãi có tên T1100. Đây cũng là mẫu laptop được Toshiba chọn để trưng bày nhân dịp 25 năm bước chân vào thị trường sản xuất laptop.

    - 1986, Toshiba giới thiệu laptop đầu tiên sử dụng vi xử lý Intel Pentium 286.

    - 1987 tiếp nối với laptop đầu tiên trên thế giới dùng Intel Pentium 386.

    - Năm 1988, hãng giới thiệu chiếc laptop đầu tiên có ổ cứng trong.

    - 1989, Toshiba ra mắt laptop đầu tiên sử dụng pin nickel.

    - 1991, hãng phát triển thành công màn hình ma trận động (active matrix) đầu tiên dành cho laptop.

    - Đến 1992, Toshiba ra mắt laptop có màn hình màu TFT LCD đầu tiên.
    Một năm sau, hãng ra mắt chiếc tablet PC đầu tiên có bút.

    - Chiếc laptop đầu tiên có ổ quang CD-ROM được mang nhãn hiệu Toshiba ra mắt 1995, đây cũng là năm Toshiba có chiếc laptop đầu tiên trên thế giới sử dụng pin lithium-ion.

    - 1997, laptop Toshiba là sản phẩm đầu tiên tích hợp DVD-ROM.
    Một năm sau, lại là Toshiba đi đầu trong việc tích hợp chiếc CD-RW vào sản phẩm laptop của mình.

    - 2002, hãng giới thiệu chiếc tablet PC đầu tiên với cấu hình PC hoàn chỉnh.

    - Năm 2003, ra mắt laptop 17 inch dòng thay thế desktop đầu tiên trên thế giới. Toshiba vẫn luôn là người đi đầu trong việc tích hợp các công nghệ ổ đĩa quang vào laptop, với đầu ghi DVD trên laptop đầu tiên trong cùng năm.

    - 2005, laptop Toshiba là sản phẩm đầu tiên đạt chứng chỉ RoHS, đảm bảo không sử dụng các chất độc hại với sức khỏe con người.

    - Đến năm 2006, Toshiba chính thức giới thiệu laptop đầu tiên có ổ đĩa HD-DVD.

    - Một năm sau, hãng phát triển thành công ổ đĩa quang mỏng 7mm đầu tiên trên thế giới, với dòng laptop Portégé siêu mỏng nổi tiếng.

    Toshiba Satellite


    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html


    Đây là dòng sản phẩm chính của Toshiba, nhắm đến các đối tượng tiêu dùng phổ thông. Các sản phẩm Satellite rất đa dạng, từ dòng có cấu hình bình dân nhất, cho đến các model mạnh mẽ với đầy đủ các tính năng giải trí cao cấp.

    Các model Satellite đầu tiên không có ổ CD-ROM, nhưng là một trong những tượng đài lớn của công nghiệp điện toán di động. Những chiếc Satellite này có thể kết nối với ổ CD-ROM gắn ngoài, thông qua cổng parallel ở phía sau, cho tới khi cổng USB xuất hiện sau này.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Satellite 100CS


    Toshiba Satellite 100CS, một trong những mẫu Satellite đầu tiên, sử dụng CPU Intel Pentium 150MHz, 32MB RAM và ổ mềm gắn trong, chạy hệ điều hành Windows 95. Vào năm 2000, những chiếc Satellite bắt đầu được trang bị ổ DVD, màn hình 15-inch, ổ cứng 6GB và CPU tốc độ 500MHz. Đây là cấu hình hết sức hấp dẫn vào thời điểm đó, và chiếc Satellite này có giá không thấp hơn 2000 USD.

    Các sản phẩm Satellite luôn được người dùng tin tưởng vì sự bền bỉ đáng kinh ngạc, thậm chí những lời ca ngợi từ nhiều người còn mô tả, đây là chiếc laptop “không thể bị phá hủy”.Các mẫu gần đây đang dần đi theo xu hướng mỏng và rộng với thiết kế và trang trí bắt mắt hơn, trong khi những model đầu tiên có kích thước rất dày và trọng lượng lớn. Tất cả các sản phẩm về sau này đều được cài sẵn hệ điều hành Windows. Một số dòng Satellite cao cấp còn được trang bị hệ thống loa Harman Kardon cao cấp, cùng nhiều tính năng giải trí khác.

    Bên cạnh Satellite, Toshiba còn có Satellite Pro và Equium. Trong khi Satellite Pro có cấu hình và nhắm đến đối tượng người dùng cao hơn Satellite thông thường, Equium lại chính là thương hiệu Satellite được Toshiba phân phối tại châu Âu.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Toshiba Equium


    Toshiba Qosmio

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Một sản phẩm khác của Toshiba dành cho người tiêu dùng phổ thông. Đây là dòng laptop “thay thế máy bàn” đầu tiên mà Toshiba sản xuất. Qosmio chuyên về giải trí cao cấp và hiệu năng cao, với cấu hình cùng mức giá không hề rẻ chút nào. Dành cho người dùng có nhu cầu thay thế máy để bàn, Qosmio đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về giải trí cao cấp, khắt khe về ngoại hình cũng như hiệu năng mang lại.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Chiếc Qosmio đầu tiên - E15-AV101


    Chiếc Qosmio đầu tiên ra mắt vào ngày 25/07 năm 2004, sử dụng vi xử lý Intel Pentium M 1.7 GHz, 512 MB DDR SDRAM, cùng màn hình 15-inch độ phân giải 1024×768. Qosmio kể từ đó đã được Toshiba thay đổi định hướng khá nhiều, với việc dịch chuyển dần sang mảng laptop hỗ trợ giải trí cao cấp và gaming hạng nặng. Điển hình là chiếc Qosmio X500 ra mắt vào 22 tháng 10 năm 2009, sử dụng Intel Core i7, 6GB DDR3 RAM cùng màn hình 18.4-inch tỉ lệ 16:9.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Qosmio X500


    Cái tên Qosmio xuất phát từ một hãng sản xuất máy tính của Mỹ, được Toshiba mua lại vào năm 1996. Hãng này thường đưa những công nghệ giải trí cao cấp và mới nhất của mình lên dòng sản phẩm này, điển hình là chiếc Qosmio đầu tiên có tên G35-AV650 được tích hợp ổ đĩa HD-DVD, một phát minh của Toshiba trong lĩnh vực lưu trữ đĩa quang vào năm 2006, với dung lượng lưu trữ gấp 3.2 lần so với DVD truyền thống. Chiếc Qosmio này cũng đóng vai trò máy ghi hình kĩ thuật số, khi được tích hợp đầu thu tín hiệu truyền hình (TV Tuner).

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Qosmio G35-AV650 với HD-DVD tích hợp


    Toshiba Quad Core HD trên Qosmio:

    Qosmio cũng là dòng máy tính nắm giữ kha khá kỉ lục. Nếu Qosmio X305 với giá từ 2000USD được trang bị 3 card đồ họa đầu tiên trên thế giới, thì Qosmio G40, G50, G55, F50 cùng nhiều model khác là những chiếc laptop đầu tiên đưa vi xử lý Cell – trái tim của Sony PlayStation 3 lên máy tính xách tay (Toshiba cũng là một thành viên trong liên minh chế tạo Cell, 2 thành viên còn lại là IBM và Sony).

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Qosmio G55 với vi xử lý Toshiba Quad Core HD


    Vào thời điểm Qosmio G50 ra mắt thì nền tảng Centrino của Intel đang thống trị thị trường di động, và thật khó cho các hãng sản xuất có thể “cá biệt hoá” sản phẩm của mình. Bên cạnh sự biến tấu trong thiết kế, hầu hết các hãng sản xuất đều lựa chọn phương án là sử dụng phần mềm độc quyền, cho dù nó có được người dùng đánh giá cao hay không. Tuy nhiên, Toshiba đã có một sự cải tiến thực sự đối với serie Qosmio Centrino 2 của hãng – Qosmio G50 và Qosmio F50.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html


    Không còn bàn cảm ứng đa điểm, Qosmio G50 và F50 sẽ được trang bị khả năng cảm biến chuyển động của bàn tay người dùng. Đây sẽ là những chiếc notebook đầu tiên sử dụng bộ xử lý Toshiba Quad Core HD, cho phép chip Core 2 Duo và card đồ hoạ của nVidia “rảnh rỗi” để thực hiện những nhiệm vụ khác.

    Toshiba Quad Core HD có tên gọi khác là SpursEngine, được xây dựng dựa trên cấu trúc của Cell – “trái tim” của console PS3. Bộ vi xử lý này từng được trang bị cho dòng laptop Qosmio G40 (ra mắt vào ngày 09-05-2008) gồm 4 nhân có tốc độ 1.5 GHz, bộ nhớ cache L2 256 KB cũng như có tốc độ tính toán đến 48 GFLOPS. Không chỉ có thế, bộ xử lý trung tâm này còn có thể có thể đọc và giải mã được các phim ảnh độ nét cao (HD – High-definition) với hai chuẩn MPEG-2 và H.264 (MPEG-4).

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Toshiba Quad Core HD - SpursEngine


    Không chỉ thực hiện các công việc như rendering, mã hoá và giải mã video HD, Quad Core HD còn cho phép Qosmio G50 và F50 kết hợp giữa khả năng định hướng bằng khuôn mặt và chuyển động của tay. Chẳng hạn, chỉ cần chuyển động bàn tay phía trước webcam, người dùng có thể di chuyển con trỏ chuột hoặc điều khiển các chương trình đa phương tiện. Tính năng định hướng bằng khuôn mặt cho phép notebook nhận diện hình ảnh cá nhân và hiển thị như index của một video. Khả năng này giúp người dùng dễ dàng tìm kiếm một clip cụ thể nào đó.

    Tuy mạnh mẽ như vậy, bộ xử lý này lại tiêu tốn điện rất ít, thấp nhất 10W và cao nhất cũng chỉ có 20W, trong khi bộ xử lý CPU của Intel lẫn AMD đều tiêu thụ từ 25 – 35W.

    Toshiba Libretto

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html


    Trước khi netbook chỉ mới ra mắt với sự khởi xướng của Intel, Toshiba đã giới thiệu các laptop mini nổi tiếng của mình từ rất lâu. Dòng Libretto là các mẫu laptop tí hon (còn gọi là subnotebook) với màn hình chỉ 6 tới 10 inch và hỗ trợ đầy đủ hệ điều hành Windows, tính năng của một dòng siêu di động. Chiếc Libretto đầu tiên có tên Libretto 20, ra mắt vào ngày 17/04 năm 1996, với thể tích 821 cm³ và trọng lượng chỉ 840g. Dòng sản phẩm này được chấm dứt sản xuất tại châu Âu và Mỹ vào năm 1999, trong khi tại thị trường Nhật Bản, Toshiba vẫn tiếp tục các seri Libretto SS, FF và L cho tới năm 2001.

    Năm 2005, Libretto trở lại với mẫu U100, và nhân dịp kỉ niệm 25 năm ngày ra mắt chiếc laptop đầu tiên, loạt sản phẩm mới của Toshiba cũng có tên một chiếc Libretto mới đầy độc đáo: W100 với 2 màn hình touchscreen.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html


    Libretto W100


    Libretto W100 thật sự có 2 màn hình cảm ứng, mỗi chiếc 7-inch và có độ phân giải 1024 x 600. Nội lực của Libretto W100 gồm vi xử lý Intel Pentium U5400 1.2GHz, bộ nhớ trong 2GB và ổ cứng SSD 64GB; máy chạy hệ điều hành Windows 7 Home Premium. Mặc dù sản phẩm xuất hiện khá hoàn hảo trước mắt nhiều người, Toshiba vẫn ung dung gọi đó là 1 “concept PC” với dự tính mức giá khi bước vào thị trường là $1099 trong vài tháng tới, dĩ nhiên là số lượng hạn chế.

    Libretto W100 có độ dày chỉ 1.2-inch, vỏ ngoài được làm bằng nhôm xước trông rất đẹp mắt và sang trọng. Chiếc tablet UMPC này có cân nặng chỉ 1.8pound, tương đương 816gram, khá nhẹ và nhỏ gọn. Phần bàn phím ảo của Toshiba Libretto W100 được thiết kế sẵn đến 6 layout khác nhau.

    Toshiba Tecra


    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html


    Ngoài các sản phẩm dành cho thị trường tiêu dùng phổ thông, thị trường laptop dành cho doanh nhân cũng được Toshiba chú tâm phát triển. Cái tên khá nổi tiếng trong thị trường này chính là Toshiba Tecra, chiếc máy được thiết kế chuyên biệt với những tính năng phục vụ đắc lực cho công việc, cùng độ bền hoàn hảo mà bất cứ người bận rộn nào hay phải di chuyển đều mong muốn.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Toshiba Tecra 500CS


    Chiếc Tecra đầu tiên được Toshiba ra mắt vào năm 1996, gồm 2 sản phẩm Tecra 500CS và Tecra 500CDT. Cả 2 đều có thiết kế và cầu hình khá tương đồng, với trọng lượng khá “nhẹ” (vào thời đó) là 3.4 kg, bao gồm bộ sạc. Ngay từ những ngày đầu, pin lithium-ion đã được Toshiba sử dụng cho dòng laptop này, vời thời lượng pin lên đến hơn 2 giờ. Các mẫu Satellite phải đợi đến năm 1997 mới chuyển sang sử dụng loại pin này, cho đến ngày nay.

    Nhắc về cấu hình của 2 chiếc Tecra đầu tiên, 500CS và 500CDT sử dụng CPU Intel Pentium SL Enh 120MHz, bộ nhớ 16MB EDO RAM, mở rộng tối đa tới 144MB. Về khả năng lưu trữ, Tecra thời đó sử dụng một ổ đĩa mềm, một ổ CD-ROM (!), một ổ cứng với dung lượng 1.35MB. Màn hình là loại STN LCD 12-inch với độ phân giải 800×600, trong khi 500CDT sử dụng 12.1 inch TFT LCD, với cùng độ phân giải.

    Năm 2000, chiếc Tecra 8100 ra đời đánh dấu nhiều bước tiến vượt bậc trong công nghệ. Đó là CPU Pentium III 700MHz, màn hình 14.1-inch, ổ đĩa DVD-ROM cùng card màn hình rời S3 Savage MX. Tecra 8100 cũng là một trong những chiếc laptop doanh nhân đầu tiên có thời lượng pin lên đến 4 giờ, cùng các tính năng bảo mật dữ liệu, vốn rất cần thiết với một chiếc laptop làm việc. Hiện tại, dòng sản phẩm này vẫn đang được Toshiba phát triển, với ưu tiên hàng đầu dành cho các tính năng di động cao, bảo mật tốt, hiệu suất trong xử lý công việc cùng sự bền bỉ nổi tiếng.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html


    Tecra 8100


    Toshiba Portégé


    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html


    Cho những ai đang tìm kiếm sự vượt trội về đẳng cấp, khả năng di động cực cao, những công nghệ dẫn đầu và đơn giản là “hàng đỉnh của đỉnh”, Toshiba Portégé là chiếc laptop dành cho bạn. Ngay từ những ngày thiết kế chiếc Portégé đầu tiên, Toshiba đã luôn tâm niệm về một chiếc laptop siêu cấp, vượt ra khỏi những giới hạn bình thường. Portégé là cái tên luôn mang đến sự kinh ngạc, hấp dẫn ngay từ khi tiếp xúc, và là mục tiêu mơ ước, phấn đấu của không ít người.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html


    Toshiba Portégé R600 nặng ~ 1kg sử dụng SSD 128-512GB, giá 3000 - 4500$


    Nhắc đến Toshiba Portégé, đó đơn giản là nhắc đến sự khác biệt. Đây là dòng laptop tách biệt hoàn toàn với những sản phẩm khác của Toshiba, khi rất nhiều người không nghĩ một hãng sản xuất rất nhiều laptop phổ thông lại có một sản phẩm đẳng cấp đến vậy. Chiếc Portégé đầu tiên có tên T3600ct, sử dụng CPU 50MHz, 24MB RAM cùng ổ cứng 500MB. Giá chiếc laptop này vào thời điểm đó lên đến 5000 USD, với thời lượng pin lithium-ion sử dụng đạt từ 5-7 tiếng, con số quá ấn tượng vào thời điểm năm 1994.

    Portégé luôn nổi tiếng mỏng, nhẹ với nhiều lần chiếm giữ ngôi vị nhẹ nhất thế giới. Tuy nhiên đừng để vẻ bề ngoài của chiếc laptop này đánh lừa. Đây là một sản phẩm với thiết kế siêu việt, mang trong mình sức mạnh xử lý không thua kém bất kì chiếc laptop nào cùng kích cỡ, thậm chí là những chiếc lớn hơn. Toshiba Portégé cũng là dòng laptop “chịu chơi” nhất khi là sản phẩm đầu tiên sử dụng ổ cứng SSD 512GB, mang lại hiệu năng cùng độ bền bỉ, khả năng di động siêu việt. Đây cũng là sản phẩm nổi tiếng “đắt xắt ra miếng”, nhưng dù giá cả có thế nào, ai đã từng trải nghiệm qua đều công nhận, Portégé vô cùng xứng đáng với số tiền bỏ ra.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Portégé R700 mới ra mắt, chiếc laptop 13.3-inch nhẹ nhất thế giới


    Sản phẩm mới nhất của Toshiba Portégé là chiếc R700, với trọng lượng nhẹ nhất thế giới cho laptop 13.3-inch, cấu hình mạnh mẽ, thời lượng pin ấn tượng cùng vô số tính năng mà bất kì ai đã và đang dùng laptop đều mơ ước. Đây cũng là chiếc laptop Toshiba ra mắt nhân dịp kỉ niệm 25 năm ngày bước chân vào thị trường laptop. Mức giá của R700 được coi là khá dễ chịu so với truyền thống “tiền không thành vấn đề” của dòng sản phẩm này, kết quả là mức p/p hết sức khả quan cho một thương hiệu nổi tiếng và có truyền thống.

    Toshiba netbook

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    toshiba NB300


    Cũng như nhiều nhà sản xuất khác, Toshiba bắt đầu bước chân vào thị trường netbook khi nhận ra nhu cầu ngày càng lớn của người dùng về một chiếc máy nhỏ, nhẹ, pin lâu giá rẻ dành cho nhu cầu lướt web và giải trí. Các sản phẩm netbook của Toshiba như NB300, NB250, Dynabook có thiết kế khá mới lạ và bắt mắt. Cộng với độ bền và những công nghệ nổi tiếng lâu nay của Toshiba, tuy nhập cuộc sau nhưng thương hiệu netbook này vẫn có chỗ đứng rất tốt đối với người dùng.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html

    Dynabook AZ-AC100

    Kết luận:

    Các dòng sản phẩm laptop Toshiba có khá nhiều dòng máy phù hợp cho mọi đối tượng và nhu cầu khác nhau. Lịch sử hình thành và phát triển cũng cho thấy, Toshiba luôn đề cao các giá trị bên trong của sản phẩm, cùng với đó là việc cải tiến thiết kế cùng mẫu mã sản phẩm. Với lịch sử phát triển lâu dài và vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực phát triển công nghệ, vô số mốc đầu tiên của thế giới, laptop Toshiba đã gây dựng được niềm tin vững chắc đối với người tiêu dùng.

    Các mẫu laptop Toshiba có khá nhiều tùy chọn, cả bề ngoài lẫn cấu hình của từng dòng sao cho phù hợp nhất với khả năng tài chính và nhu cầu sử dụng, do đó có thể nói laptop Toshiba khá linh hoạt và phù hợp với đại đa số người dùng. Toshiba thành lập khá lâu đời, thương hiệu mạnh và uy tín. Chất lượng sản phẩm rất tốt và bền bỉ theo thời gian.

    Thương hiệu Toshiba thâm nhập thị trường Việt Nam cũng khá lâu, bắt đầu với các thiết bị, linh kiện điện và điện tử gia dụng. Chất lượng và hiệu quả sử dụng là những yếu tố then chốt giúp Toshiba tạo dụng lòng tin nơi người tiêu dùng. Và nay, những chiếc laptop Toshiba tiếp tục chinh phục người dùng bằng những giá trị cốt lõi mà Toshiba đã xây dựng cho toàn bộ các dải sản phẩm của mình.

    06/06/2011 Viết bình luận
  • ASUSTeK Computer Incorporated (ASUS) (Chữ Hán phồn thể: 華碩電腦股份有限公司; Chữ Hán giản thể: 华硕电脑股份有限公司; Bính âm Hán ngữ: Huáshuo Diànnaǒ Gufen Yǒuxiàn Gōngsī) là một tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở tại Đài Loan chuyên sản xuất các mặt hàng điện tử như bo mạch chủ, máy tính xách tay, máy chủ, điện thoại di động và các sản phẩm máy tính khác. Thường được gọi là với tên thương hiệu là ASUS, công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán London (LSE:ASKD) và Sở giao dịch chứng khoán Đài Loan (Bản mẫu:TSE).

    ASUS còn sản xuất linh kiện các hãng khác bao gồm:

    • Apple Inc. (iPod, iPod Shuffle, MacBook)
    • Alienware
    • Falcon Northwest
    • Hewlett-Packard
    • Palm, Inc.

    ASUS là 4 kí tự cuối của cụm từ Pegasus, chú ngựa có cánh trong thần thoại Hi Lạp thể hiện cảm hứng về nghệ thuật và sự học hỏi. ASUS tiêu biểu cho sức mạnh, tinh thần sáng tạo và sự thuần khiết thể hiện bởi bản chất cao quý và linh động, hướng đến tầm cao mới về chất lượng và sáng tạo trong từng sản phẩm tung ra thị trường.

    ASUSTeK Computer Inc.

    Loại hình đại chúng
    LSE:ASKD
    Bản mẫu:TSE
    Ngành nghề Phần cứng máy tính và sản phẩm điện tử
    Thành lập 2 tháng 4 năm 1990[1]
    Nhà sáng lập TH Tung
    Ted Hsu
    Trụ sở chính Đài Bắc, Đài Loan
    Khu vực hoạt động Toàn cầu
    Thành viên chủ chốt Jonney Shih, Chủ tịch
    Jerry Shen, CEO
    TH Tung, VP & Nhà sáng lập
    Ted Hsu, VP & Nhà sáng lập
    Sản phẩm Bo mạch chủ, bo mạch đồ họa, máy tính xách tay, netbook, màn hình máy tính, giải trí đa phương tiện, máy chủ và thiết bị ngoại vi
    Thu nhập Bản mẫu:USD billion (2009)[2]
    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html 7.9% từ 2008
    Lãi thực Bản mẫu:USD tỉ (2009)[2]
    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.html 37.9% từ 2008
    Nhân viên 104.294 (2009)[2]
    Website Asus.com

    06/06/2011 Viết bình luận
  • Lịch sử hãng Sony

    Thành lập vào tháng 5/1946 tại Nihonbashi Tokyo được mang tên là Tokyo Tsushin Kogyo K.K (Tokyo Telecommunications Engineering Corporation) với số vốn ban đầu là 190.000 yên. Công ty này đổi tên thành Sony vào tháng 1/1958.

    Từ “Sony” là kết hợp của từ “sonus” trong tiếng La-tinh (âm thanh) và từ “sonny” trong tiếng Anh (cậu bé nhanh nhẹn thông minh) theo cách gọi tên thân mật. Những nhà sáng lập hy vọng tên “Sony” thể hiện tinh thần nhiệt huyết và sáng tạo của giới trẻ.

    Hai nhà sáng lập ra công ty Sony là Ông Ibuka và Ông Morita.

    Tháng 6-1957, một tấm bảng lớn mang tên Sony được dựng gần sân bay Haneda ở Tokyo. Tháng 1-1958, Công ty Totsuko chính thức trở thành Công ty Sony. Tháng 12 năm đó, tên Sony được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Tokyo. Một trong những việc đầu tiên mà Morita và các đồng nghiệp nghĩ đến là lần lượt đăng ký thương hiệu Sony tại 170 nước, vùng lãnh thổ và đăng ký nhiều ngành sản xuất khác nhau ngoài ngành chính là điện tử. Điều đó cho thấy sự nhìn xa trông rộng của các nhà sáng lập và qua đó cũng bộc lộ khát vọng sẽ chinh phục thế giới của họ.

    Hai nhà sáng lập Sony đều có “gốc gác” là dân kỹ thuật, rất giỏi với những sáng chế. Hơn ai hết, họ ý thức được tầm quan trọng của việc luôn phải tiên phong trong lĩnh vực sáng tạo ra những sản phẩm mới. Con đường phát triển của Sony là luôn luôn tìm tòi, nghiên cứu để tạo ra những sản phẩm mới phục vụ đời sống. Nhờ đó mà các sản phẩm đồ điện tử trở nên hết sức phong phú và đa dạng, đáp ứng các nhu cầu của người tiêu dùng. Khoảng 6%-10% doanh thu hàng năm của Sony được trích ra dành cho việc nghiên cứu. Các sản phẩm không chỉ nhắm vào các nhu cầu hiện tại mà còn dành cho cả các nhu cầu chưa nảy sinh.

    Cần nhắc lại là sản phẩm đầu tiên được sản xuất dưới thương hiệu Totsuko là chiếc máy ghi âm dùng băng từ tính, ra đời năm 1950 và hai năm sau đã quen mặt với thị trường. Năm năm sau, sản phẩm thứ hai của Morita và các đồng nghiệp được đánh giá là một trong những bước đột phá ấn tượng nhất, đó là chiếc radio bán dẫn nhãn hiệu TR-55 chạy bằng transistor đầu tiên của nước Nhật, mở đầu kỷ nguyên bán dẫn phát triển rầm rộ vào thập niên 1960. Chiếc truyền hình transistor đầu tiên

    Tháng 5-1960, Sony cho ra đời chiếc máy truyền hình (TV) transistor đầu tiên lấy tên là TV8 -301. Thành quả trên được sự công nhận của cả thế giới, vinh dự không chỉ riêng của Sony, mà còn của cả nền công nghiệp điện tử của Nhật Bản. Đầu những năm 1960, Morita và các đồng nghiệp bắt đầu quan tâm đến một sản phẩm khác. Đó là máy sử dụng băng video VTR (Video Tape Recorder) do hãng Ampex của Mỹ chế tạo và cung cấp cho các đài phát thanh.

    Vì sử dụng cho mục đích phát thanh nên máy rất cồng kềnh, mỗi máy chiếm diện tích cả một căn phòng, còn giá thành hơn 100.000 USD/chiếc thì chỉ những cơ quan có ngân sách dồi dào mới sắm nổi. Mục tiêu mà Ibuka và Morita nhắm đến là những chiếc máy VTR gọn nhẹ, giá cả phù hợp với túi tiền của đa số người tiêu dùng trong nước.

    Tất cả chuyên viên, kỹ sư của Sony tập trung nỗ lực theo hướng này, thiết kế và sản xuất thử nhiều mẫu sản phẩm khác nhau, mẫu sau gọn nhẹ, tiện lợi hơn mẫu trước. Chiều ngang băng video rộng hơn 5cm của hãng Ampex đã được thu nhỏ còn không đến 2cm. Chiếc máy VTR nguyên mẫu được đặt tên là U - Matic, đã được sự đón nhận khá tích cực của người tiêu dùng, chỉ riêng hãng xe hơi Ford đã đặt mua một lần 5.000 chiếc để dùng trong công tác huấn luyện nhân viên. Thành công này khuyến khích Morita và các chuyên viên tiến xa thêm bước nữa, đó là tiếp tục cải tiến máy VTR, hạ giảm giá thành bằng cách dùng băng video nhỏ hơn nữa, có chiều rộng mặt băng không đến 1,3cm và sử dụng 100% linh kiện bán dẫn.

    Năm 1964, một toán chuyên viên do Nobutoshi Kihara dẫn đầu đã chế tạo được chiếc CV-2000, máy thu phát băng video cassette (VCR) sử dụng trong gia đình đầu tiên của thế giới. Băng từ tính ghi phát hình không còn là hai cuộn băng nằm riêng rẽ bên ngoài máy ghi phát hình nữa, mà chúng đã được lắp đặt trong một hộp băng duy nhất đặt bên trong máy, gọn gàng và dễ sử dụng. Giá bán một chiếc CV-2000 chỉ còn bằng không tới 1% giá một chiếc máy VTR (máy ghi phát hình dùng băng video có cuộn băng bên ngoài máy: open reel) sử dụng trong các hệ thống phát thanh, truyền hình, và bằng không đến 10% giá một chiếc máy sử dụng trong ngành giáo dục.

    Tháng 10-1968, Sony cho ra đời chiếc TV màu nhỏ gọn sử dụng đèn hình trinitron, một công nghệ mới mẻ giúp đèn có hiệu năng cao. Chính sáng kiến về trinitron này đã được Hàn Lâm viện quốc gia Mỹ về nghệ thuật truyền hình và khoa học tặng giải thưởng Emmy cho tập đoàn Sony vào năm 1972. Những năm gần đây, để phát triển sản phẩm hàng điện tử gia dụng, Sony đặc biệt chú trọng đến việc vươn lên vị trí hàng đầu trong lĩnh vực liên quan. Năm 1988, Sony tiếp nhận công ty CBS Records Inc để thành lập nên Sony Music Entertainment và năm 1989 tiếp tục mua lại Columbia Pictures thành lập nên Sony Picture Entertainment. Sony PlayStation khai trương vào năm 1995 đưa tập đoàn Sony trở thành tập đoàn chiếm vị trí hàng đầu trong lĩnh vực trò chơi điện tử. Hiện nay Tập đoàn Sony có 168.000 nhân viên làm việc tại khắp các châu lục trên tòan cầu. Là nhà sản xuất điện tử hàng đầu thế giới, Sony đạt nhiều thành công trong lĩnh vực điện tử dân dụng như tivi màu, sản phẩm audio & video, trò chơi điện tử, lĩnh vực điện tử chuyên dụng như thiết bị phát thanh truyền hình, y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học. Ngày nay, danh mục của Sony có trên 5.000 sản phẩm bao gồm đầu DVD, máy chụp ảnh, máy tính cá nhân, TV, các thiết bị âm thanh nổi, thiết bị bán dẫn và chúng được thiết lập thành những danh mục có thương hiệu như máy nghe nhạc cá nhân Walkman, TV Trinitron, máy vi tính Vaio, TV màn ảnh rộng Wega, máy ghi hình HandyCam, máy chụp ảnh kỹ thuật số Cybershot và bộ trò chơi PlayStation. Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, Sony là một trong những tên tuổi nổi bật của lĩnh vực chế tạo máy tính, viễn thông và dịch vụ Internet.

    Sony còn là nhà sản xuất kinh doanh hàng đầu thế giới về âm nhạc và điện ảnh với hoạt động của công ty như Sony Picture Entertainment, Sony Music Entertainment, Sony BMG, v.v…

    06/06/2011 Viết bình luận
  • Lịch sử hãng  DELL

    Dell Computer Corp. là nhà cung cấp máy tính cá nhân lớn nhất trên thế giới, một danh hiệu mà Dell dành được từ tháng 4 năm 2001 san khi đánh bại đối thủ Compaq Computer Corp (tuy nhiên danh hiệu này đã bị HP đoạt mất vào cuối năm 2006) . Tập đoàn này cũng là nhà cung cấp máy tính cá nhân lớn nhất qua mạng internet, một kênh bán hàng hữu hiệu chiếm hơn nửa doanh số bán ra của Dell. Chỉ riêng trong năm 2000, doanh số bán ra của Dell đã đạt mức $32 tỷ và sử dụng hơn 38.000 nhân viên trên toàn thế giới. Mặc dù hiện nay doanh số bán ra của mặt hàng máy tính cá nhân vẫn chiếm khoảng 55% tổng doanh số, thế nhưng từ những năm cuối thế kỷ 20, Dell tập trung đẩy mạnh kinh doanh trong lĩnh vực máy chủ cho mạng internet và các thiết bị lưu trữ dữ liệu. Chủ trương đúng đắn này của Dell đã đưa tập đoàn lên vị trí thứ hai trong lĩnh vực kinh doanh máy server tại thị trường Mỹ chỉ sau Compaq. Tạp chí Fortune xếp Dell đứng thứ 10 trong danh mục "Các công ty triển vọng nhất " trong năm 2001.


    NHỮNG NĂM ĐẦU KHỞI NGHIỆP
    Khi còn là sinh viên năm thứ nhất của Đại học Tổng hợp Texas, Michael S. Dell đã bắt đầu tập kiếm tiền bằng cách lắp ráp và bán những máy tính tương tự như máy tính của hãng IBM ngay trong phòng trọ của ký túc xá sinh viên. Sử dụng những linh kiện mua với giá bán buôn, Dell lắp ráp những máy tính tương đương với máy tính của IBM và bán cho những người sử dụng máy tính cá nhân với giá rẻ hơn nhiều so với giá bán của các công ty danh tiếng. Nhận thấy rằng cái công việc mà mình ưa thích, hàng tháng đem về tới $80.000, có thể dễ dàng chuyến đổi thành một ngành kinh doanh lớn trong tương lai, Michael Dell rời bỏ đại học Texas và thành lập Dell Computer Corp. mang chính tên ông vào tháng 4 năm 1984. Với niềm tin chăc chắn rằng những người sử dụng máy tính có kinh nghiệm sẽ đánh giá được chất lượng của những loaih máy tính do ông lắp ráp theo từng yêu cầu riêng của khách hàng, Dell bắt đầu đăng quảng cáo trong các tạp chí về công nghệ thông tin. Vào thời gian này khách hàng có thể sử dụng tới 800 số điện thoại để đặt mua máy tính do công ty Dell lắp ráp và giao hàng qua bưu điện. Bằng cách mua tận gốc, bán tận ngọn này, Dell có thể bán cho khách hàng với giá thấp hơn nhiều so với các công ty khác.
    Dell nhanh chóng trở thành nhà phân phối lớn nhất về máy tính cá nhân qua bưu điện. Với doanh số khá khiêm tốn khoảng $6 triệu trong năm 1985, Dell nhanh chóng đẩy doanh số lên gần $40 triệu vào ngay năm sau đó. Dell cũng nhanh chóng nhận ra rằng ông cần có các công sự có kinh nghiệm để quản lý công ty đang phình ra với tốc độ chóng mặt. Vì vậy ông chiêu mộ ngay một loạt các chuyên viên marketing từ chính đối thủ cạnh tranh của mình là công ty Tandy Corp., cũng như mời chuyên gia về ngân hàng là E. Lee Walker về làm chủ tịch tập đoàn. Bản thân Michael Dell nắm giữ vị trí Tổng giám đốc và cho đến nay ông là người giữ cương vị Tổng giám đốc có thâm niên lâu nhất trong các công ty máy tính của Hoa Kỳ. Vào năm 1987, Dell bắt đầu phát triển hệ thống các nhà máy chế tạo của riêng mình. Hãng Dell cũng bắt đầu xây dựng hệ thống hỗ trợ khách hàng trong cả nước Mỹ và bắt đầu cung cấp các dịch vụ lắp đặt, sửa chữa, bảo hành, bảo dưỡng ngay tại nhà cho các sản phẩm của chính mình Cũng vào năm 1987 hãng Dell đã mở văn phòng đầu tiên của mình tại Anh, mở đầu cho công cuộc chinh phục thế giới. Hãng cũng bắt đầu cho xuất bản cuốn catalog đầu tiên của mình.
    Đội ngũ marketing mới của hãng đã nhanh chóng hướng các sản phẩm của Dell vào các thương vụ lớn. Nó đồng thời cũng mở rộng lực lượng bán hàng và làm cho chi phí quảng cáo lên khá cao. Cảm nhận thấy công ty của mình đã đi quá xa so với ý định ban đầu về mô hình bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng, Dell bắt đầu cảnh cáo những giám đốc marketing của mình về việc chi phí quá nhiều cho quảng cáo và sử dụng những chiến thuật marketing truyền thống. Vào cuối năm 1987, phần lớn các chuyên viên marketing lôi kéo được từ công ty Tandy đã bị buộc phải thôi việc hoặc tự rút lui. Dell nhanh chóng cải tổ lại và nâng cấp hệ thống dịch vụ khách hàng của mình vào cuối năm 1988. Đồng thời hãng cũng cho ra đời 3 model PC mới của mình, mở thêm văn phòng tại Canada và bắt đầu mở dịch vụ cho thuê máy tính. Hãng cũng tập trung nhiều hơn vào các khách hàng lớn như công sở, các trường đại hoc, các cơ sở giáo dục và các công ty lớn. Cũng trong năm 1988 Dell trở thành công ty đại chúng, bắt đầu bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán với giá $ 8,5 một cổ phiếu.
    Để có thể cạnh trạnh được với các công ty của Nhật bản luôn tung ra thị trường các sản phẩm rẻ hơn, Dell bắt đầu chiến dịch củng cố bộ máy của mình. Nhằm mục đích đó, Dell thuê Glenn Henry nguyên là kỹ sư của hãng IBM Corp. vào năm 1989, để phụ trách phần phát triển sản phẩm mới. Hãng cũng bắt đầu sản xuất những server đầu tiên trên cơ sở UNIX và hợp tác với Intel để đưa bộ vi xử lý 486 vào máy tính của minh ngay sau khi nó được xuất xưởng. Dell cũng bắt đầu tham gia bán máy in kim do hãng Epson sản xuất và vào năm 1990 doanh số bán máy in kim Epson đã lên tới $ 546 triệu bằng 40 % của doanh số toàn hãng. Mặc dù mức tăng trưởng hai con số trong doanh thu nhưng lợi nhuận của hãng lại giảm 64 % chủ yếu do chi phí nghiên cứu phát triển cao và tồn kho với số lượng lớn các loại chíp nhớ. Hãng lần đầu tiên đã phải sử dụng hệ thống bán lẻ sau khi ký hợp đồng với Soft Warehouse Inc., hãng bán lẻ máy tính hàng đầu tại Mỹ. Hoạt động trên thương trường thế giới cũng tăng mạnh sau khi hãng đưa cơ sở sản xuất tại Ireland vào hoạt động và mở các văn phòng mới tại Pháp, Ý và Thụy Điển.

    PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
    Với phương châm: phương thức bán hàng cũng góp phần quan trọng vào thành công của hãng như là sản phẩm mà hãng bán ra, Dell đã dành khá nhiều công sức vào việc đào tạo các nhân viên phục vụ khách hàng của mình bằng việc bắt buộc tất cả các nhân viên phải qua một khóa huấn luyện 6 tuần để trả lời các câu hỏi của khách, giải quyết các khiếu nại, nhận đơn đặt hàng và giúp đỡ các khách hàng lựa chọn sản phẩm theo đúng yêu cầu trước khi đưa họ ra bán hàng. Các khiếu nại của khách luôn được đưa ra thảo luận tập thể trong buổi họp nhân viên hàng tuần nhằm giúp nhân viên tìm ra cách giải quyết tốt nhất. Những cố gắng này đã được trả giá xứng đáng khi vào năm 1990 J.D. Powers & Associates, văn phòng điều tra xã hội học xếp Dell đứng thứ nhất trong số các hãng cung cấp máy tính trong việc đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Cũng trong năm 1990 hãng đã dành vị trí thứ sáu trong số những công ty sản xuất máy tính lớn nhất ở Mỹ so với vị trị thứ 22 mà hãng đã có trong năm 1989.
    Vào năm 1991, Dell bắt đầu xuất xưởng chiếc máy laptop đầu tiên với mục tiêu trở thành nhà cung cấp hàng đầu trong thị trường mới mở đầy hưa hẹn này. Các hoạt động nhằm mở rộng ảnh hưởng ra toàn thế giới cũng được tiến hành với tốc độ chóng mặt. Các chi nhánh được nhanh chóng thiết lập tại Bỉ, Phần lan, Luxembourg, Na uy và Bồ đào nha; một trung tâm phục vụ khách hàng lớn đã được thiết lập tại Hà lan; các văn phòng bán hàng được mở tại Ireland và Bỉ; và hệ thống bán hàng trực tiếp và chương trình phục vụ khách hàng tại nhà đã được thiết lập tại Mexico. Với mong muốn trở thành công ty đứng đầu trong việc hỗ trợ khách hàng, Dell đã đi tiên phong trong việc cài đặt các phần mền ứng dụng không tính tiền cho khách hàng của mình.
    Không giống như các đối thủ cạnh tranh khác, Dell đã giành được lợi thế từ suy thoái kinh tế trong những năm 90 của thế kỷ trước. Mặc dù các công ty và người tiêu dùng phải thắt lưng buộc bụng nhưng nó không đủ chặt để gây cản trở cho việc mua bán máy tính cá nhân mà chỉ làm cho khách hàng trở nên khó tính hơn trong việc lựa chọn nhà cung cấp. Dell lúc này trở thành nhà cung cấp được lựa chọn đầu tiên do những đặc tính nổi trội trong việc phục vụ khách hàng. Kết quả là số lượng khách hàng của Dell ngày một tăng cao. Tuy nhiên thành công của Dell cũng kéo theo sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các công ty khác học theo phương thức bán hàng trực tiếp của Dell. Hãng Gateway 2000 đã xếp Dell đứng đầu trong các hãng bán máy tính cá nhân trực tiếp tại Mỹ trong năm 1992. Cũng trong năm này Dell đã thực thi chương trình giảm thời gian phục vụ khách hàng xuỗng dưới 4 giờ kể từ khi nhận yêu cầu qua điện thoại. Hãng cũng thành lập Ban Năng lực Phục vụ Chuyên nghiệp nhằm tăng cường mối liên kết với các chi nhành, văn phòng, cơ sở sản xuất trên toàn cầu của Dell. Trong năm 1992, Dell đã mở các chi nhánh mới tại Ba Lan, Tiệp Khắc và Thụy sĩ. Dell cũng ký thỏa thuận hợp tác với Pertech Computer Ltd. của New Delhi để xây dựng hệ thống bán hàng tại đất nước đông dân thứ hai trên thế giới này. Doanh số bán ra trong năm 1992 đã đạt mức $890 triệu và cũng trong năm 1992 Dell lần đầu tiên lọt vào danh sách 500 công ty lớn nhất của Fortune.
    Vào cuối năm 1993, Dell trở thành công ty lớn thứ năm trên toàn thế giới về sản xuất và bán máy tính cá nhân với doanh số lên đến hơn $ 2 tỷ. Hãng cũng thiết lập một chương trình mới về phục vụ khách hàng cho phép khách hàng lựa chọn những mức độ phục vụ mà họ mong muốn.Một số vướng mắc về kỹ thuật với một model máy tính xách tay đã buộc Dell dừng hẳn cả một dây chuyền sản xuất và chịu thiệt $ 20 triệu. Để phản công chiến thuật giảm giá lớn của Compaq Computer Corp., Dell đã cho ra đời dòng máy tính Dimensions giá thấp cũng như một loạt dòng máy tính khác có giá thấp để cạnh tranh lại. Các hãng máy tính khác rât khó cạnh tranh lại được với Dell trên thị trường vì chi phí bán của Dell chỉ chiếm 18%, chỉ bằng một nửa so với chi phí bán hàng của các hãng khác. Một trong những nguyên nhân là do dư lượng tồn kho của Dell thường được giữ ở mức thấp hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh. Khách hàng thường thông báo cho Dell biết cụ thể loại máy tính nào là loại họ mong muốn, điều này làm giảm đáng kể chi phí thử nghiệm mà các hãng khác không sử dụng phương pháp bán hàng trực tiếp thường phải chiu. Ngay vào năm 1995, Dell đã chiếm 3% thị phần máy tính cá nhân trên toàn thế giới.

    TÁC ĐỘNG CỦA INTERNET
    Phương pháp bán hàng trực tiếp của Dell cực kỳ phù hợp với các phương tiện truyền thông như Internet. Dell đã bắt đầu bán các sản phẩm máy tính cá nhân thông qua internet ngay từ năm 1996. Thay vì đặt hàng thông qua điện thoại, khách hàng có thể đặt hàng thông qua Dell's Web site. Kho hàng của hãng trên mạng internet cho phép khách hàng lựa chọn các cấu hình, chọn giá và đặt hàng cho tất cả các đơn hàng từ bé đến lớn. Trang web của hãng cũng cho phép khách hàng có thể theo dõi việc thực hiện đơn đặt hàng của mình cũng như chọn các dịch vụ phục vụ khách hàng mà mình mong muốn. Chỉ trong vòng một năm Dell đã đạt được doanh số bán hàng 1 triêu USD một ngày qua mạng internet và 80% số khách hàng là khách mua lần đầu. Cũng nhờ internet, quá trình mua bán máy tính cá nhân được tự động hóa hoàn toàn, vì vậy mặc dù khối lượng hàng hóa bán ra tăng lên rất nhanh nhưng Dell không phải tuyển thêm nhiều nhân viên. Điều này cũng làm giảm đáng kể chi phí bán hàng song song với việc cắt giảm phí điện thoại.
    Vào cuối năm 1997, khoảng một phần ba số đơn đặt hàng của Dell được làm thông qua internet, tuy nhiên phần lớn nó là của các khách hàng cá nhân hoặc các doanh nghiệp nhỏ nên Dell phải tìm cách lôi kéo các doanh nghiệp lớn cũng đặt hàng trên mạng. Nhằm mục đích đó hãng cho thiết kế các website riêng cho các khách hàng lớn. Ngoài các thông tin chung như cấu hình và loại giá mà Dell có thể chiết khấu, trang web này còn cũng cho phép khách hàng yêu cầu thêm các dịch vụ và theo dõi ngay trên mạng đơn hàng của mình. Nhiều công ty trong đó có Detroit Edison Co. đã bắt đầu mua máy tính của Dell trên mạng nhằm giảm thời gian mà nhân viên của họ phải bỏ ra để tìm chọn máy tính cũng như các thủ tục giấy tờ trong quá trình mua sắm và giảm thời gian giao hàng.
    Tờ BusinessWeek Online, ngày 14 tháng năm 2001 đã viết: "Michael Dell là người làm thương mại điện tử ngay từ khi thương mại điện tử vừa mới hình thành. Trong thời gian thương mại điện tử phát triển đến đỉnh cao, ông đã dùng internet để giao tiếp với khách hàng và bán được USD 50 triệu máy tính mỗi ngày." Tuy nhiên Internet không chỉ là phương tiện bán hàng mạnh nhất của Dell vào những năm cuối thế kỷ 20 mà còn do việc phát triển internet đã kích thích thị trường máy server mà Dell đã nhằm tới vào năm 1996 nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào máy tính cá nhân. Vào năm 1997, Dell bắt đàu tập trụng vào sản xuất và buôn bán workstations. Vào năm 1998, thị phần máy servers chiếm đến 16 % trong $12 tỷ doanh số của Dell. Một năm sau đó Dell trở thành nhà cung cấp server lớn thứ hai tại thị trường Mỹ chỉ sau Compaq Computer Corp. Cũng vào năm đó khi các đối thủ cạnh tranh giảm giá máy tính cá nhân, Dell đã phản công lại bằng cách cho sản xuất loại máy tính cá nhân có giá rẻ hơn USD 1.000. Doanh số trong năm này đạt tới $25.3 tỷ và cổ phiếu của Dell tăng 140% trong 4 năm liên tục.
    Do nền công nghiệp chế tạo máy tính cá nhân dần dần suy giảm khi bước vào thế kỷ 21, Dell bắt đầu định hướng lại chiến lược phát triển bằng việc để mắt đến các thiết bị cho công nghệ internet và hệ thống lưu trữ dữ liệu. Doanh số bán ra trong năm này tăng 38,5%, kém hơn so với năn trước 10% và giá cổ phiếu bắt đầu tụt giảm. Theo tờ BusinessWeek Online, mạng internet đã giúp Dell thoát khỏi cơn suy thoái đang đến "Nhờ vào hệ thông tiêu thụ hữu hiệu dựa trên nền internet, hãng vẫn giữ được mức lợi nhuận cần thiết ngay cả khi nó tiến hành cuộc chiến đẫm máu trong việc giảm giá máy tính cá nhân". Bởi Dell có phần lớn khách hàng đặt trên mạng nên Dell có thể kiểm tra được nhu cầu của thị trường và vì vậy Dell có thể giảm số lượng hàng dự trữ trong kho xuống chỉ còn độ 65% so với các đối thủ cạnh tranh của mình. Riêng khoản này đẫ giúp Dell tiết kiệm được tới $50 triêu trong một năm. Vào tháng 4 năm 2001 Dell vượt qua Compaq Computer để trở thành nhà cung cấp máy tính cá nhân hàng đầu trên thế giới.
    Mặc dù Dell đã thành công trong cuộc chiến máy tính cá nhân, nhiều nhà phân tích cũng chỉ ra rằng hơn một nửa doanh số của Dell vẫn phụ thuộc vào thị trường máy tính cá nhân đang suy giảm. Hơn thế nữa, vào năm 2006 DELL đã phải nhường vị trí nhà cung cấp máy tính cá nhân đứng đầu thế giới cho HP. Dell trong thế kỷ 20 được biết đến như là một nhà buôn bán các công nghệ mới hơn là một nhà phát triển công nghệ. Vì vậy những cố gắng của hãng nhằm phát triển những thiết bị cho thị trường Internet mới nổi dậy được xem là những định hướng mới của Dell. Tuy nhiên để giữ vững vai trò là nhà cung cấp đứng thứ hai trong thị trường server và thứ sáu trong thị trường thiệt bị lưu trữ dữ liệu Dell sẽ phải đối mặt với những đối thủ lớn như Sun Microsystems Inc., IBM, và EMC— đều là những bậc anh tài trong làng phát triển công nghệ mới. Tuy nhiên với thành công trong quá khứ về phát triển phương thức bán hàng trực tiếp, hy vọng rằng Dell sẽ thành công trong tương lai mặc dù trược mặt còn nhiều khó khăn phải vượt.

    TÁC ĐỘNG CỦA INTERNET
    Phương pháp bán hàng trực tiếp của Dell cực kỳ phù hợp với các phương tiện truyền thông như Internet. Dell đã bắt đầu bán các sản phẩm máy tính cá nhân thông qua internet ngay từ năm 1996. Thay vì đặt hàng thông qua điện thoại, khách hàng có thể đặt hàng thông qua Dell's Web site. Kho hàng của hãng trên mạng internet cho phép khách hàng lựa chọn các cấu hình, chọn giá và đặt hàng cho tất cả các đơn hàng từ bé đến lớn. Trang web của hãng cũng cho phép khách hàng có thể theo dõi việc thực hiện đơn đặt hàng của mình cũng như chọn các dịch vụ phục vụ khách hàng mà mình mong muốn. Chỉ trong vòng một năm Dell đã đạt được doanh số bán hàng 1 triêu USD một ngày qua mạng internet và 80% số khách hàng là khách mua lần đầu. Cũng nhờ internet, quá trình mua bán máy tính cá nhân được tự động hóa hoàn toàn, vì vậy mặc dù khối lượng hàng hóa bán ra tăng lên rất nhanh nhưng Dell không phải tuyển thêm nhiều nhân viên. Điều này cũng làm giảm đáng kể chi phí bán hàng song song với việc cắt giảm phí điện thoại.
    Vào cuối năm 1997, khoảng một phần ba số đơn đặt hàng của Dell được làm thông qua internet, tuy nhiên phần lớn nó là của các khách hàng cá nhân hoặc các doanh nghiệp nhỏ nên Dell phải tìm cách lôi kéo các doanh nghiệp lớn cũng đặt hàng trên mạng. Nhằm mục đích đó hãng cho thiết kế các website riêng cho các khách hàng lớn. Ngoài các thông tin chung như cấu hình và loại giá mà Dell có thể chiết khấu, trang web này còn cũng cho phép khách hàng yêu cầu thêm các dịch vụ và theo dõi ngay trên mạng đơn hàng của mình. Nhiều công ty trong đó có Detroit Edison Co. đã bắt đầu mua máy tính của Dell trên mạng nhằm giảm thời gian mà nhân viên của họ phải bỏ ra để tìm chọn máy tính cũng như các thủ tục giấy tờ trong quá trình mua sắm và giảm thời gian giao hàng.
    Tờ BusinessWeek Online, ngày 14 tháng năm 2001 đã viết: "Michael Dell là người làm thương mại điện tử ngay từ khi thương mại điện tử vừa mới hình thành. Trong thời gian thương mại điện tử phát triển đến đỉnh cao, ông đã dùng internet để giao tiếp với khách hàng và bán được USD 50 triệu máy tính mỗi ngày." Tuy nhiên Internet không chỉ là phương tiện bán hàng mạnh nhất của Dell vào những năm cuối thế kỷ 20 mà còn do việc phát triển internet đã kích thích thị trường máy server mà Dell đã nhằm tới vào năm 1996 nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào máy tính cá nhân. Vào năm 1997, Dell bắt đàu tập trụng vào sản xuất và buôn bán workstations. Vào năm 1998, thị phần máy servers chiếm đến 16 % trong $12 tỷ doanh số của Dell. Một năm sau đó Dell trở thành nhà cung cấp server lớn thứ hai tại thị trường Mỹ chỉ sau Compaq Computer Corp. Cũng vào năm đó khi các đối thủ cạnh tranh giảm giá máy tính cá nhân, Dell đã phản công lại bằng cách cho sản xuất loại máy tính cá nhân có giá rẻ hơn USD 1.000. Doanh số trong năm này đạt tới $25.3 tỷ và cổ phiếu của Dell tăng 140% trong 4 năm liên tục.
    Do nền công nghiệp chế tạo máy tính cá nhân dần dần suy giảm khi bước vào thế kỷ 21, Dell bắt đầu định hướng lại chiến lược phát triển bằng việc để mắt đến các thiết bị cho công nghệ internet và hệ thống lưu trữ dữ liệu. Doanh số bán ra trong năm này tăng 38,5%, kém hơn so với năn trước 10% và giá cổ phiếu bắt đầu tụt giảm. Theo tờ BusinessWeek Online, mạng internet đã giúp Dell thoát khỏi cơn suy thoái đang đến "Nhờ vào hệ thông tiêu thụ hữu hiệu dựa trên nền internet, hãng vẫn giữ được mức lợi nhuận cần thiết ngay cả khi nó tiến hành cuộc chiến đẫm máu trong việc giảm giá máy tính cá nhân". Bởi Dell có phần lớn khách hàng đặt trên mạng nên Dell có thể kiểm tra được nhu cầu của thị trường và vì vậy Dell có thể giảm số lượng hàng dự trữ trong kho xuống chỉ còn độ 65% so với các đối thủ cạnh tranh của mình. Riêng khoản này đẫ giúp Dell tiết kiệm được tới $50 triêu trong một năm. Vào tháng 4 năm 2001 Dell vượt qua Compaq Computer để trở thành nhà cung cấp máy tính cá nhân hàng đầu trên thế giới.
    Mặc dù Dell đã thành công trong cuộc chiến máy tính cá nhân, nhiều nhà phân tích cũng chỉ ra rằng hơn một nửa doanh số của Dell vẫn phụ thuộc vào thị trường máy tính cá nhân đang suy giảm. Hơn thế nữa, vào năm 2006 DELL đã phải nhường vị trí nhà cung cấp máy tính cá nhân đứng đầu thế giới cho HP. Dell trong thế kỷ 20 được biết đến như là một nhà buôn bán các công nghệ mới hơn là một nhà phát triển công nghệ. Vì vậy những cố gắng của hãng nhằm phát triển những thiết bị cho thị trường Internet mới nổi dậy được xem là những định hướng mới của Dell. Tuy nhiên để giữ vững vai trò là nhà cung cấp đứng thứ hai trong thị trường server và thứ sáu trong thị trường thiệt bị lưu trữ dữ liệu Dell sẽ phải đối mặt với những đối thủ lớn như Sun Microsystems Inc., IBM, và EMC— đều là những bậc anh tài trong làng phát triển công nghệ mới. Tuy nhiên với thành công trong quá khứ về phát triển phương thức bán hàng trực tiếp, hy vọng rằng Dell sẽ thành công trong tương lai mặc dù trược mặt còn nhiều khó khăn phải vượt.

    06/06/2011 Viết bình luận
  • Lịch sử hãng máy tính  Acer:

    Stan Shih được coi là người hùng ở Đài Loan khi ông thành công trong việc đưa Acer trở thành thương hiệu máy tính quốc tế.


    Acer được thành lập năm 1976 bởi Stan Shih (施振荣) và vợ ông Carolyn Yeh và một nhóm năm người khác. Acer hoạt động ban đầu chỉ với 11 nhân viên và US $ 25.000, trụ sở đặt tại thành phố Tân Trúc, Đài Loan.
    Acer bắt đầu thâm nhập vào máy tính xách tay bằng việc mua bộ phận máy tính di động Texas Instruments năm 1997. năm 2007 Acer mua lại Gateway với giá 710 triệu USD trở thành công ty đứng thứ ba thế giới sau HP và Dell. Năm 2008 Acer mua 75% cổ phần của nhà sản xuất đến từ châu Âu Packard Bell với giá 45,8 triệu USD, Sự thành công của Acer trong vụ mua lại Packard Bell có một phần đóng góp rất lớn từ Gateway. Năm 2009 Acer vươn lên trở thành công ty sản xuất máy tính lớn đứng thứ 2 thế giới sau HP.
    Năm 2008, Acer có doanh thu 16,65 tỷ đô la Mỹ, lợi nhuận ròng 358 triệu đô la Mỹ, nhân viên là 5300 người. Chi nhánh Acer ở Úc, Ấn Độ, Mỹ và EU.
    Chủ tịch & Giám đốc điều hành của tập đoàn Acer là JT Wang và Gianfranco Lanci.

    Ngành công nghiệp máy tính luôn là một trong những lĩnh vực có sự cạnh tranh khốc liệt nhất, mà từ trước tới nay luôn do sự thống trị của một số tập đoàn khổng lồ, ví dụ như IBM. Như vậy, làm thế nào mà một công ty Đài Loan lại có thể trở thành nhà sản xuất máy tính cá nhân lớn thứ 3 trên thế giới, tạo được một thương hiệu khiến các tập đoàn máy tính khác phải nể phục và thi thoảng phải kiêng dè? Làm thế nào mà công ty thoát khỏi hình ảnh “Made in Taiwan”, một trong các nước châu Á mà chỉ được nghĩ tới với những sản phẩm chất lượng không tốt?

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.htmlCâu trả lời ở đây chính là nhờ sự chuẩn bị một cách rất kĩ lưỡng và cẩn thận trong suốt quá trình xây dựng hình ảnh của thương hiệu. Ngay từ ban đầu, Shih đã nhận ra rằng đây là một thử thách to lớn đối với ông và ông đã định vị  sản phẩm của mình cao hơn hẳn so với tất cả những vị trí mà các sản phẩm Đài Loan khác đã đạt được trước đó. Lấy ví dụ, khi xâm nhập vào thị trường Nhật Bản, ông định giá cho sản phẩm gần tương tự như các sản phẩm cùng loại ở đây để tránh suy nghĩ của người tiêu dùng về việc chất lượng sản phẩm không tốt đồng nghĩa với giá rẻ. Đây là một điểm rất quan trọng mà nhờ đó các sản phẩm mang thương hiệu Acer đã không bị xếp vào các mặt hàng tiêu dùng thông thường.

    Acer Computer luôn luôn được đầu tư một số tiền rất lớn vào việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm, tiếp bước các công ty công nghệ ở Nhật Bản, Shih tin tưởng vào “sự cải tiến” – dùng những đổi mới để tạo giá trị trong thiết kế và sản xuất các sản phẩm đặc sắc và dẫn đầu thị trường. Công ty của Shih đã thực sự định vị được sản phẩm PC của mình - là ứng dụng mang tính thẩm mỹ, thoả mãn được khách hàng - “công nghệ mới được tất cả mọi người yêu thích ở khắp mọi nơi”. Thực ra “mới” ở đây không đơn giản chỉ là mang nghĩa mới mẻ mà còn là những gì tốt nhất, mang giá trị cao, hầu như không có lỗi về kỹ thuật - để có thể thoả mãn được  tất cả mọi người trong một thời gian dài. “Mới” còn có liên quan tới “sự đổi mới, cải tiến”, dựa vào công nghệ cao - với giá cả hợp lý, dễ sử dụng. Máy tính Acer có một lịch sử lâu dài gắn liền với “sự cải tiến” và hiện nay Acer vẫn luôn luôn cải tiến sản phẩm của mình.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.htmlMục đích của Acer là phải ngày càng tậo trung vào “người tiêu dùng” nhiều hơn, họ tin rằng máy tính cá nhân sẽ trở thành sản phẩm điện tử với hàng loạt các cách sử dụng và ứng dụng trong các lĩnh vực truyền thông, giải trí và giáo dục. Chính vì thế mà máy tính Acer cần  phải trở thành một chuyên gia trong lĩnh vực sản phẩm điện tử và cả máy tính cá nhân. Shih nhắc tới điều này như là một chuyển biến từ việc “tập trung vào công nghệ” tới việc “tập trung vào đối tượng người tiêu dùng”. Trước nay, ngành công nghiệp máy tính luôn được chú trọng về mặt sản phẩm hơn là con người. Nhưng hiện nay Acer Computing đang định vị lại thương hiệu để trở thành công ty dịch vụ và sở hữu trí tuệ - mà trung tâm chính là người tiêu dùng, giống như ý nghĩa của câu khẩu hiệu mới của họ “Acer, nối kết con người và công nghệ”. Đối với Shih thì quyền sở hữu về trí tuệ là một giá trị mới được thêm vào cho sản phẩm - đối với Acer thì đó là  nâng cao nhận thức của khách hàng bằng chính các giá trị và lợi ích của sản phẩm mang lại, dựa vào bao bì, thiết kế, các thiết bị đi kèm, cách sử dụng dễ dàng, các giải pháp thích hợp - những giá trị hữu hình của sản phẩm. Đây chính là cách mà Acer Computer đang phát triển thương hiệu của mình để trở thành một thương hiệu toàn cầu.

    http://az24.vn/hoidap/mot-so-hang-san-xuat-may-tinh-la-cua-nuoc-nao-d2208245.htmlCách mà Acer Computer đang cố gắng để điều khiển nhân thức của khách hàng, khiến họ nghĩ tới Acer là công ty có vai trò rất quan trọng, là quảng cáo mang tầm quốc tế nhiều hơn – ví dụ như họ tài trợ cho Asian Games 1998 tận 10 triệu đô-la Mỹ. Điều này đã mang lại kết quả rất lớn đối với thương hiệu Acer. Một cách khác nữa là trở thành đối tác với các công ty nước ngoài. Bằng cách này, Acer Computer đã đạt được toàn bộ triết lý “global brand, local touch” và chúng ta hi vọng trong tương lai, Acer sẽ trở thành một thương hiệu toàn cầu thực sự.

    Tuy vậy, hiện nay Acer vẫn mới chỉ là thương hiệu trong khu vực mà thôi. Mặc dù công ty có sản xuất máy tính cho IBM và các công ty lớn khác nhưng nó chưa thực sự được tin cậy. Năm 1998, Acer được xếp là nhà sản xuất PC (máy tính cá nhân) thứ 3 trên thế giới nhưng thực ra nó chỉ đạt được 8% doanh thu thực sự từ chính thương hiệu Acer. Và ở Mỹ - thị trường tiêu thụ lớn nhất trên thế giới thì năm 1998, thị phần của Acer chiếm chưa tới 5%.

    06/06/2011 Viết bình luận