• Ảnh hưởng của công ty đa quốc gia?

    Chào diễn đàn và các anh chị đáng mến!

    Em thắc mắc là: Những mặt lợi cũng như hạn chế trong kinh doanh của cấu hình công ty đa quốc gia là gì ạ? Ảnh hưởng hoạt động của nó tới đời sống xã hội như thế nào?

    Nếu ai biết cuốn sách nào nói về công ty đa quốc gia xin cho mình biết tên. Xin cảm ơn rất nhiều

  • avatar
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
    • smile
Ngày đăng: 08-06-2011 08:45 963
Bình Luận
Trả lời (4)
  • Đặc điểm của Công ty Xuyên quốc gia trong quan hệ quốc tế TNC được nhiều người coi là một loại hình tổ chức quốc tế phi chính phủ (INGO) trong kinh tế. Giữa INGO và TNC có những đặc điểm giống nhau. Nhưng cũng có nhiều người khác tách TNC như một chủ thể phi quốc gia riêng. Sở dĩ như vậy là bởi vì TNC có những đặc điểm riêng không chỉ trong tổ chức, hoạt động mà cả trong tác động của nó tới QHQT. Điều này tạo nên vị trí riêng của nó đối với quốc gia và trong QHQT. Dưới đây là một số đặc điểm chủ yếu của TNC trong QHQT.
    - Tính cá nhân trong tổ chức và hoạt động. Cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động, thành phần tham gia, nguồn tài chính đóng góp... của các TNC xuất phát chủ yếu từ nguồn cá nhân hơn là nhà nước. Điều này khiến cho tổ chức và hoạt động của các TNC dựa trên ý chí cá nhân của những người góp vốn hơn là ý chí quốc gia. Các TNC theo đuổi lợi ích của chính mình hơn là lợi ích quốc gia. Trên thực tế, có những TNC thuộc sở hữu nhà nước hoặc do nhà nước nắm cổ phần quyết định nhưng số lượng tương đối ít(5). Vì thế, tính cá nhân vẫn là đặc điểm phổ biến của TNC.
    - Tính quốc tế trong thành phần, mục đích và hoạt động. Chủ sở hữu và thành viên góp vốn của TNC thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Mục đích của các TNC là lợi nhuận trên thị trường quốc tế chứ không bó hẹp trong thị trường nội địa. Hoạt động kinh doanh của nó là xuyên quốc gia với việc khai thác thị trường quốc tế, thiết lập chi nhánh nước ngoài và sử dụng nguồn nhân lực đa quốc gia. Hiện nay, tỉ trọng tài sản nước ngoài, giá trị thương mại của các chi nhánh nước ngoài và nhân công nước ngoài của TNC đều tăng lên. Đây là điểm giúp phân biệt TNC với các công ty quốc gia (National Corporation).
    - Tính tự nguyện trong thành lập và hoạt động. Điều đó tức là mục đích, sự thành lập và nhiệm vụ đề ra, đóng góp và hoạt động của TNC chủ yếu được thực hiện trên cơ sở thoả thuận kinh tế hay dân sự một cách tự nguyện chứ không hoàn toàn chịu chi phối, cưỡng ép của quốc gia. Tất nhiên, tính chất
    này không bao gồm các TNC thuộc sở hữu nhà nước nhưng trong thực tế, các TNC đó cũng được trao quyền tự chủ kinh doanh khá
    lớn.
    - Khác với các INGO có mục tiêu và chương trình nghị sự rất đa dạng, các TNC thường chỉ có mục đích là lợi nhuận. Hoạt động của chúng chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế. Chúng có thể hoạt động trong một hay nhiều ngành kinh tế. Tuy nhiên, nhằm phân tán rủi ro trong kinh doanh, ngày càng có nhiều TNC hoạt động đồng thời trong nhiều ngành kinh tế khác nhau. So với INGO thường ít thay đổi về mục tiêu và chương trình nghị sự, TNC linh hoạt và dễ thay đổi hơn nhiều trong mục tiêu và ngành nghề kinh doanh.
    - Khác với INGO ít gắn trực tiếp với chính trị, TNC có sự gắn bó đáng kể với chính trị. Sự chi phối lẫn nhau giữa chính trị và kinh tế, mục đích lợi nhuận quá lớn của các TNC đã quy định điều này. Không kể quá khứ gắn với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, sự can thiệp của TNC vào công việc nội bộ nước khác là hiện tượng không hề hiếm trong trong thời hiện đại. Hiện nay, các phương pháp hoạt động chính trị của TNC thường là gây sức ép đối với nước sở tại và vận động hành lang ở chính quốc để thay đổi chính sách và luật pháp. Ngược lại, hoạt động của TNC cũng chịu ảnh hưởng khá lớn của môi trường chính trị chính quốc và nước sở tại cũng như mối quan hệ chính trị giữa chúng.
    - Tính thể chế của TNC chặt chẽ hơn nhiều so với các INGO. TNC là loại hình tổ chức kinh doanh quốc tế với tổ chức, nguyên tắc hoạt động và sự quản lý khác hẳn với INGO. Cơ cấu tổ chức của TNC thường theo hình kim tự tháp với mức độ ràng buộc cao và sự phân nhiệm rõ ràng. Chúng có hệ thống các quy định chặt chẽ cho mọi công đoạn hoạt động từ tổ chức xuống từng cá nhân. Các nguyên tắc hoạt động được quy định rõ ràng và có tính bắt buộc. Tính chất quan hệ trong TNC thường mang tính phục tùng. Tính thể chế của TNC thường được thể hiện trong điều lệ công ty, quy chế hoạt động, nội quy và các phương án kinh doanh cụ thể.
    - Các TNC hoạt động tương đối độc lập với quốc gia do chúng có sự chủ động về tổ chức, tài lực và nhân lực. Chúng hoạt động vì lợi ích của bản thân nhiều hơn là vì lợi ích quốc gia. Nhìn chung, các TNC được tự do định đoạt quy mô, đối tượng và phương án thực hiện hoạt động kinh doanh mà ít có sự can thiệp của nhà nước. Sự độc lập của TNC còn được tăng lên bởi những quy định pháp lý của nhà nước cho phép nó được quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh. Bản thân thế lực khá lớn của các TNC cũng giúp đem thêm tính độc lập tương đối cho chúng.
    - Tuy nhiên, hoạt động của TNC vẫn phụ thuộc vào quốc gia khi chịu sự điều chỉnh của luật pháp chính quốc cũng như của nước sở tại. Tại chính quốc, các hoạt động của chúng chịu sự kiểm soát ít nhiều của nhà nước dưới hình thức như thuế hay luật chống độc quyền. Tại quốc gia sở tại, TNC có thể bị quốc hữu hoá như trước kia hoặc những hạn chế như hiện nay về quy mô và lĩnh vực hoạt
    động như ngành nghề được phép kinh doanh, tỉ lệ góp vốn tối đa, quy định về kiểm toán, khuyến khích về kinh tế nhưng hạn chế về chính trị và văn hoá,… Các TNC vẫn cần sự ủng hộ hay bảo hộ của quốc gia trong hoạt động kinh doanh trên thị trường ngoài nước. Sự phụ thuộc vào quốc gia còn biểu hiện ở chỗ nhiều khi TNC được sử dụng như công cụ chính sách đối ngoại như bao vây cấm vận quốc gia nào đó. Các TNC buộc phải tuân theo quyết định của quốc gia dù điều đó trái với lợi ích của chúng.
    - Hiện nay, hoạt động của các TNC ngày càng có sự liên quan gắn bó đến nhau. Điều này được quy định bởi tính hệ thống của nền kinh tế, xu hướng thống nhất của thị trường thế giới, quá trình phân công lao động và bởi cố gắng chính trị của nhà nước nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Sự liên quan này có nhiều phản ánh khác nhau như kết hợp vốn, mua cổ phần của nhau, phối hợp sản xuất, M&A, hợp đồng liên kết công nghệ, phối hợp cùng gây áp lực chính trị,… Đây là điểm khác với INGO mà hoạt động vẫn đang còn khá riêng rẽ. Những đặc điểm trên không chỉ tạo ra “bản sắc riêng” mà còn góp phần đem lại vai trò chủ thể QHQT cho TNC.

    08/06/2011 Viết bình luận
  • Công ty Đa quốc gia (còn được gọi là công ty xuyên quốc gia) là công ty có sự quốc tế hóa nguồn vốn, tức là có chủ đầu tư thuộc các quốc tịch khác nhau.

    Công ty Xuyên quốc gia (TNC) ra đời trong thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB). Trong thời kỳ đầu cạnh tranh tự do của CNTB, mục đích lợi nhuận và sự phát triển sản xuất đã làm tăng yêu cầu về thị trường nguyên liệu, thị trường lao động, thị trường hàng hoá và thị trường tài chính. Các yêu cầu đó đã thúc đẩy việc tăng cường khai thác và mở rộng hoạt động kinh doanh sang nước khác. Ngoài ra, sự cạnh tranh quyết liệt cũng hướng nhiều công ty trong nước đi tìm lợi nhuận trong thị trường bên ngoài. Quá trình này đã được tạo điều kiện bởi sự phát triển của thương mại quốc tế đã hình thành qua nhiều thế kỷ trước. Quá trình này cũng được tạo điều kiện bởi sự ủng hộ của các nhà
    nước TBCN và chủ nghĩa thực dân. Đồng thời, quá trình đi từ hợp tác giản đơn đến liên kết sâu sắc hơn trong giới công thương tư bản đã làm tăng khả năng thực hiện sự mở rộng này. Trên cơ sở đó, các tổ chức kinh doanh quốc tế bắt đầu được hình thành và phát triển. Những tổ chức kiểu này được biết đến sớm là vào đầu thế kỷ XVII như các Công ty Đông Ấn của Anh, Hà Lan hay Công ty Hudson Bay. Vào thời bấy giờ, các công ty đó đã có ảnh hưởng nhất định đến QHQT như khuyến khích hoặc trực tiếp thi hành chủ nghĩa thực dân. Có những đoàn thám hiểm thực dân do các công ty này tổ chức. Nhiều cuộc xâm lược do chính các công ty này khuyến khích và hỗ trợ. Khi ách thực dân đã  được thiết lập, những công ty này đã đi đầu trong việc bóc lột và khai thác thuộc địa. Các TNC thực sự hình thành và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ chủ nghĩa đế quốc. Trong thời kỳ này, quá trình tích tụ tư bản, tập trung sản xuất, sự kết hợp giữa giới tài chính và giới công thương đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn sản xuất-kinh doanh lớn theo xu hướng độc quyền. Sự cạnh tranh tự do trong thời kỳ đầu của CNTB với sự thôn tính cá lớn nuốt cá bé cũng tạo thêm
    điều kiện cho sự hình thành các tổ chức kinh doanh độc quyền lớn từ Syndica qua Trust tới Conglomerate. Đáng chú ý, sự cạnh tranh và xu hướng độc quyền diễn ra mạnh mẽ cả trên thị trường trong nước lẫn ngoài nước nên càng làm tăng tính quốc tế của các công ty này. Sự nổi lên của các công ty độc quyền và
    sự vươn mạnh ra thế giới còn nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa quyền lực kinh tế của chúng với quyền lực chính trị của nhà nước TBCN. Điều đã thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc trong QHQT. Hai quyền lực này đã song hành cùng nhau trong nhiều nỗ lực tranh giành thị trường quốc tế, mở rộng khu vực ảnh hưởng và chiến tranh đế quốc. Sau Chiến tranh Thế giới II, sự phát triển của nền kinh tế thế giới, nhu cầu tăng cường quan hệ kinh tế quốc tế và sự hợp tác chính trị giữa các TBCN đã tạo điều kiện cho sự phát triển tiếp tục của các TNC, đặc biệt trong thế giới tư bản. Nhiều TNC ra đời và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này. Sự phát triển của TNC không chỉ ở sự nắm giữ các lĩnh vực kinh tế trọng yếu, năng lực tài chính và khoa học kỹ thuật,… mà còn ở sự mở rộng hoạt động kinh doanh ra khắp thế giới tư bản. Vai trò của TNC trong QHQT cũng vì thế mà đã tăng lên qua sự đóng góp rất lớn vào việc tăng trưởng các dòng đầu tư nước ngoài, thúc đẩy thương mại xuyên quốc gia và mở rộng phân công lao động quốc tế. Bên cạnh đó, sự ra đời của hàng loạt quốc gia mới thuộc Thế giới thứ Ba cùng với sự yếu kém của các nền kinh tế đó cũng vẫn duy trì cơ hội cho TNC mở rộng kinh doanh tại thị trường này. Tuy nhiên, quá khứ gắn liền với chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc đã tạo nên sự phản ứng và nghi ngờ đối với các TNC. Trong những năm 1960 và 1970, nhiều nước mới giành được độc lập đã coi các TNC là “kẻ bóc lột”, “thực dân kinh tế” hay “động vật ăn thịt” các nước nghèo. Các TNC còn bị lên án bởi xuất khẩu công nghệ lạc hậu, khai thác quá nhiều tài nguyên không tái tạo được, tranh giành thu hút lao động chuyên môn, chèn ép sản xuất nội địa và tạo nên một tầng lớp giàu xổi ở nước sở tại... Vì thế, tài sản nước ngoài của các TNC được quốc hữu hoá ở nhiều nơi. Các TNC phải rút lui khỏi thị trường của một số nước Thế giới thứ Ba. Mặc dù vậy, điều này cũng không ngăn cản được sự lớn mạnh của các TNC, đặc biệt ở các nước
    TNCN phát triển. Từ những năm 1980, nhất là sau Chiến tranh Lạnh, các TNC đã phát triển rất mạnh mẽ và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong QHQT. Xu thế hoà dịu sau Chiến tranh Lạnh, sự phát triển của kinh tế thị trường như con đường phát triển chung, xu thế hợp tác cùng phát triển, trào lưu thúc đẩy thương mại tự do và hội nhập kinh tế... đã tạo điều kiện cho các TNC mở rộng địa bàn, phát triển hoạt động ra khắp thế giới. Vai trò chính trị và thực lực kinh tế to lớn cũng như sự chi phối nền kinh tế thế giới của các nước phát triển - nơi xuất phát của hầu hết các TNC lớn - tiếp thêm điều kiện cho sự phát triển và vai trò của các TNC. Đáng chú ý, sự thay đổi cách nhìn nhận về TNC đã góp phần đáng kể cho sự mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế của các TNC. TNC ngày càng được coi là công cụ phát triển, là sự tạo công ăn việc làm, là nguồn thuế thu, là sự khắc phục về vốn, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm làm ăn quốc

    tế. Điều kiện chính trị thay đổi ở nhiều nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi, sự phát triển của hệ thống luật lệ quốc tế và pháp luật quốc gia liên quan đến TNC cũng làm giảm bớt sự nghi ngại chính trị đối với các TNC. Bởi thế, các nước đều mở cửa thị trường, khuyến khích FDI và thậm chí còn cạnh tranh với nhau trong việc thu hút TNC. Nhờ đó, các TNC đã bành trướng khá nhanh và mở rộng vai trò trong đời sống quốc tế. Sau Chiến tranh Lạnh, TNC đã có sự phát triển chóng mặt với số lượng các TNC tăng gần gấp đôi, từ khoảng 37.000 đầu thập kỷ 1990 lên gần 70.000 vào năm 2004. Đồng thời, mức độ quốc tế hoá của chúng cũng phát triển chưa từng thấy với số lượng chi nhánh nước ngoài tăng gần bốn lần, từ 170.000 đầu thập kỷ 1990 lên gần 690.000 vào năm 2004. Một điểm khác cũng đáng chú ý, TNC không còn là độc quyền của các nước phát triển hàng đầu mà đã xuất hiện cả trong các nền kinh tế đang phát triển hoặc mới nổi. Tuy nhiên, quy mô và vai trò của các TNC này vẫn còn rất khiêm tốn. Chúng chỉ chiếm 4 trong tổng số 100 TNC phi tài chính lớn nhất thế giới năm 2003, chiếm 3 trong tổng số 50 TNC tài chính lớn nhất thế giới năm 2004 : 5.551 tỉ USD. Các TNC cũng là người nắm giữ hầu hết vốn đầu tư nước ngoài. Các TNC thực hiện hơn 80% thương mại thế giới. Các TNC chi phối hầu hết các ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng của thế giới. Các TNC cũng nắm giữ phần lớn công nghệ tiên tiến và quá trình chuyển giao công nghệ. Các TNC vẫn tiếp tục nằm trong trung tâm của sự phát triển. Thế và lực của TNC tiếp tục phát triển trong những năm gần đây với xu hướng sáp nhập và thu nhận (M&A) để hình thành các tập đoàn lớn, nhất là trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng như truyền thông, ngân hàng-tài chính, giao thông vận tải... Tất cả những điều này đang làm tăng vai trò của TNC đối với quốc gia và QHQT.

    08/06/2011 Viết bình luận
  • Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational corporation) hoặc MNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia.

    Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa. Một số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu.

    Công ty đa quốc gia là Công ty hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau. (khác với Công ty quốc tế: chỉ là tên gọi chung chung của 1 công ty nước ngoài tại 1 quốc gia nào đó.)

    Đặc điểm hoạt động các công ty đa quốc gia

    Quyền sở hữu tập trung: các chi nhánh, công ty con, đại lý trên khắp thế giới đều thuộc quyền sở hữu tập trung của công ty mẹ, mặc dù chúng có những hoạt động cụ thể hằng ngày không hẳn hoàn toàn giống nhau.

    Thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị, điều hành và kinh doanh có tính toàn cầu. Tuy các công ty đa quốc gia có thể có nhiều chiến lược và kỹ thuật hoạt động đặc trưng để phù hợp với từng địa phương nơi nó có chi nhánh.

    Mục đích phát triển thành công ty đa quốc gia

    Thứ nhất: đó là nhu cầu quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh những hạn chế thương mại, quota, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng, sử dụng được nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ, khai thác các tìêm năng tại chỗ.

    Thứ hai , đó là nhu cầu sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh của nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao.

    Thứ ba, tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro. Cũng như tránh những bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất.

    Ngoài ra, bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở một ngành không muốn chuyển giao cũng là lý do phải mở rộng địa phương để sản xuất. Bên cạnh đó, tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường cũng là mục đích của MNC.

    Hoạt động MNC, vì được thực hiện trong một môi trường quốc tế, nên những vấn đề như thị trường đầu vào, đầu ra, vận chuyển và phân phối, điều động vốn, thanh toán… có những rủi ro nhất định. Rủi ro thường gặp của các MNC rơi vào 2 nhóm sau:

    Rủi ro trong mua và bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu kỳ cung cầu, chính sách vĩ mô khác…

    Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính quyền địa phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá, lạm phát, chính sách quản lý ngoại hối, thuế ,khủng hoảng nợ…

    Quản trị tài chính quốc tế trong các công ty đa quốc gia chính là quá trình quản trị rủi ro trong chuyển dịch vốn quốc tế.

    1. Sự khác biệt giữa quản lý tài chính của một công ty đa quốc gia so với công ty đơn thuần nội địa. Có 6 nhân tố:

    Sự khác biệt về hệ thống tiền tệ:

    leading.jpgTrong quản lý tài chính đòi hỏi tính toán lưu lượng tiền tệ luân chuyển vào và ra qua các nghiệp vụ tài chính phát sinh, do đó phải tính toán bằng tiền bản xứ và qui đổi ra đơn vị tiền tệ thống nhất (ngoại tệ mạnh). Như thế, trong phân tích tài chính phải có các chỉ tiêu phân tích tỷ giá hối đoái, hoặc phân tích ảnh hưởng sự biến động giá trị của tiền tệ đối với tình hình tài chính công ty.

    Thể chế về chính trị và kinh tế:

    Mỗi một quốc gia có một khuôn mẫu kinh tế và chính trị riêng, rất đặc thù và rất khác nhau giữa các quốc gia. Sự khác biệt này là một vấn đề thực sự quan trọng trong đối sách của công ty đa quốc gia trong việc cố gắng để điều hành và quản lý, trên qui mô toàn thế giới, các công ty con hoặc các đại lý chi nhánh của chúng.

    Khác biệt về ngôn ngữ:


    Khả năng giao tiếp là yêu cầu hàng đầu trong mọi giao dịch kinh doanh, trong đó ngôn ngữ đóng vai trò trọng yếu. Vì vậy các nhà doanh nghiệp muốn bành trướng việc kinh doanh của mình ra khỏi biên giới đất nước thì vấn đề hàng đầu là khả năng ngoại ngữ, càng thông thạo nhiều thứ tiếng thì khả năng xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước khác càng cao.

    Khác biệt về văn hóa:

    Ngay cả các nước ở trong cùng một khu vực địa lý có những mối liên hệ truyền thống từ xa xưa cũng rất khác nhau về văn hoá. Chính bản sắc văn hoá riêng biệt này đã định hình và ảnh hưởng sâu xa đến hoạt động kinh doanh trong xã hội và vì thế các công ty đa quốc gia đã bị ảnh hưởng trong việc xác định mục tiêu kinh doanh ở nước ngoài.

    Vai trò của chính phủ:


    Các mô hình tài chính mặc nhiên chấp nhận sự cạnh tranh trên thị trường, nơi đó thuật ngữ “cạnh tranh” được xác định bởi các thành phần tham gia, chính phủ nắm trong tay quyền lực thiết lập trật tự kinh tế và luật lệ căn bản cũng tham gia vào quá trình này.

    Rủi ro chính trị:


    Trong những tình huống xảy ra những vấn đề chính trị bất lợi, chính phủ có thể áp đặt quyền lực tối cao lên tài sản của công ty như trưng dụng, sung công mà không có một khoản bồi thường nào. Qua thực tế, ngay cả nhân mạng cũng không được bảo đảm. Một số đại diện của các công ty đa quốc gia đã bị bắt làm con tin tại Iraq và Kuwait trong thời kỳ chiến tranh vùng Vịnh là một ví dụ điển hình.

    2. Quản trị tài chính quốc tế ở các công ty đa quốc gia (MNC)

    Khái niệm


    Quản trị tài chính quốc tế ở các công ty MNC bao gồm việc quản lý các thao tác dịch chuyển tài chính giữa nhiều nước, có thể là nội bộ, song phương hoặc đa phương.

    Giữa các sự dịch chuyển ấy, rủi ro, sự lên giá, xuống giá tài sản tài chính là vấn đề thường xuyên xãy ra. Do vậy, quản trị rủi ro là công việc phải làm thường xuyên hằng ngày.

    Vì hiệu quả là thước đo cuối cùng của các MNC, không có một phương thức nhất định nào trong quản lý tài chính. Điều tốt trong trường hợp này có thể lại không tốt trong trường hợp còn lại của chính công ty. Thí dụ:

    Nếu tài chính được chuyển từ công ty mẹ sang công ty con thì sự lên giá đồng tiền nội địa là tốt.

    Nếu tài chính được chuyển từ công ty con sang công ty mẹ thì sự xuống giá đồng tiền nội địa là tốt.

    Do đó, khi mà chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương các địa phương là độc lập với chính sách tài chính của các MNC, rõ ràng chính sách tài chính của MNC phải uyển chuyển theo chính sách của ngân hàng trung ương và phụ thuộc vào chính sách này.

    Hệ quả là rủi ro thứ nhất có thể xảy ra cho công tác quản trị tài chính quốc tế của các MNC là rủi ro về chính sách vĩ mô của ngân hàng trung ương, rủi ro về tỉ giá.

    Có nhiều loại rủi ro khác nhau, lạm phát có thể gây ra tình trạng giảm giá tài sản hiện tại. Còn nếu MNC đầu tư vào trái phiếu, cổ phiếu, nó có thể bị tác động bởi sự vỡ nợ ngân hàng, sự giao động giá trái phiếu, hoặc giao động tỷ giá…

    Trước khi phân tích những công cụ và một số kỹ thuật đơn giản được dùng trong quản trị tài chính quốc tế của các MNC, điều cần thiết ở đây là phải biết các hạng mục thường được sử dụng và tuân theo trong quá trình quản trị này.

    Các hạng mục trong quản trị tài chính của MNC

    - Quản trị các rủi ro trong giao dịch: Các rủi ro trong giao dịch thường liên quan đến các khoản phải thu, phải trả bằng đơn vị tiền nước ngoài. Để hạn chế rủi ro loại này, các MNC thường sử dụng nghiệp vụ tự bảo hiểm kỳ hạn, hoặc thông quan thị trường tiền tệ, tín dụng, nghiệp vụ chọn phương thức thanh toán, nghiệp vụ khấu trừ tổn thất, nghiệp vụ  điều chỉnh giá.

    - Quản trị rủi ro tài chính trong chuyển đổi:
    Do tỷ giá biến động và kể cả lạm phát, việc chuyển các giá trị tài sản tài chính của các công ty con theo hình thức song phương, đa phương… ở những thời điểm khác nhau, có thể khác nhau, gây ra loại rủi ro chuyển đổi.

    - Quản trị rủi ro trong đầu tư: Bao hàm các loại quản trị giá tài sản hiện tại, giá cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, tỷ giá, giá trị vốn cổ phần… Trong đó, quản trị rủi ro về tỷ giá là quan trọng nhất, bởi nó tác động đến tất cả các loại còn lại.

    08/06/2011 Viết bình luận
  • Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (từ các chữ Multinational corporation) hoặc MNE (từ các chữ Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia.

    Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia. Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa; một số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu.

    Cấu trúc công ty đa quốc gia

    Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất:

    * Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds).

    * Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas).

    * Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft).

    Một số khác cho rằng đặc điểm cơ bản của các công ty đa quốc gia là bộ phận không trực tiếp làm việc với khách hàng, tiếng Anh: back-office, (ví dụ cung cấp nguyên liệu, tài chính và nguồn nhân lực) ở mỗi quốc gia mà nó hoạt động. Các công ty đa quốc gia đã tạo ra một phiên bản nhỏ của chính nó ở mỗi công ty. Xí nghiệp liên hợp toàn cầu mà một số người cho rằng sẽ là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình phát triển của công ty đa quốc gia thì không có đặc điểm này.

    Sức mạnh quốc tế

    Các công ty đa quốc gia lớn mạnh có thể có ảnh hưởng lớn đến các quan hệ quốc tế khi chúng có ảnh hưởng kinh tế lớn đến các khu vực mà các nhà nhà chính trị đại diện và chúng có nguồn lực tài chính dồi dào để phục vụ cho quan hệ công chúng (public relations) và vận động hành lang (lobbying) chính trị.

    08/06/2011 Viết bình luận